TNPCII-Bài 03A.10
Đề: Natthi jhānaṃ apaññassa, paññā natthi ajhāyato; Yamhi jhānañca paññā ca, sa ve nibbānasantike. (Dhp.372)
Văn xuôi: Jhānaṃ apaññassa natthi. Paññā ajhāyato natthi. Yamhi jhānañca paññāca (atthi/santi/honti), so ve nibbānasantike (ṭhito hoti).
Dịch: Không có thiền cho kẻ không có tuệ. Không có tuệ cho kẻ không có thiền.Nơi người nào có cả thiền và tuệ, người ấy chắc chắn đứng gần Nibbāna.
Chú giải:
Dhp-ṭhā.ii.372**:** Natthi jhānan****ti jhānuppādikāya vāyāmapaññāya apaññassa jhānaṃ1 nāma natthi. ***Paññā natthī***ti ajhāyantassa ‘‘samāhito bhikkhu yathābhūtaṃ jānāti passatī’’ti vuttalakkhaṇā paññā natthi. Yamhi jhānañca paññā cāti yamhi puggale idaṃ ubhayampi atthi, so nibbānassa santike ṭhitoyevāti attho. [“Natthi jhānaṃ - không có thiền” tức chắc chắn không có thiền cho kẻ vô trí với trí tuệ tinh cần {vāyāmapaññāya} làm nền tảng cho thiền ấy. “Paññā natthi – không có trí tuệ” tức chắc chắn không có trí tuệ với đặc tính mà đã được nói là “Vị tỳ-khưu mà có định biết và thấy như thật” cho kẻ không có thiền. “Yamhi jhānañca paññā ca – nơi ai có cả thiền & tuệ” có nghĩa nơi người nào mà có cả 2 pháp này (jhāna & paññā) thì chính người ấy đứng gần Nibbāna.]
Pārā-ṭhā.i.116: Paccanīkadhamme jhāpetīti jhānaṃ**, iminā yogino jhāyantītipi jhānaṃ, paccanīkadhamme ḍahanti gocaraṃ vā cintentīti attho. Sayaṃ vā taṃ jhāyati upanijjhāyatīti [upanijjhāyatīti upecca nijjhāyati oloketi – suy xét/quán chiếu sau khi an trú trên thiền mục thì được gọi là “upanijjhāyati”] jhānaṃ, teneva upanijjhāyanalakkhaṇanti vuccati. Tadetaṃ ārammaṇūpanijjhānaṃ, lakkhaṇūpanijjhānanti duvidhaṃ hoti. Tattha ārammaṇūpanijjhānanti saha upacārena aṭṭha samāpattiyo vuccanti. Kasmā? Kasiṇādiārammaṇūpanijjhāyanato. Lakkhaṇūpanijjhānanti vipassanāmaggaphalāni vuccanti. Kasmā? Lakkhaṇūpanijjhāyanato. Ettha hi vipassanā aniccalakkhaṇādīni upanijjhāyati, vipassanāya upanijjhāyanakiccaṃ pana maggena sijjhatīti maggo lakkhaṇūpanijjhānanti vuccati. Phalaṃ pana nirodhassa tathalakkhaṇaṃ upanijjhāyatīti lakkhaṇūpanijjhānanti vuccati. (Cái mà phá hủy các pháp đối nghịch được gọi là “jhānaṃ”; nhờ cái này mà các thiền giả tập trung được nên mới gọi là “jhānaṃ”, tức có nghĩa các thiền giả thiêu đốt các pháp đối nghịch hoặc suy tư về thiền mục {gocaraṃ}. Hoặc tự nó tập trung/thiền định và suy xét thấu đáo nên được gọi là “jhānaṃ”, nhờ vậy mà jhānaṃ được gọi là “cái có đặc tính suy xét thấu đáo {upanijjhāyanalakkhaṇaṃ}”. Jhānaṃ ấy gồm 2 loại: 1/ thiền suy xét thấu đáo về cảnh {ārammaṇūpanijjhānaṃ} & 2/ thiền suy xét thấu đáo về trạng thái {lakkhaṇūpanijjhānanti}. Trong đó, 8 thiền chứng cùng với cận định {upacārasamādhi} được gọi là “ārammaṇūpanijjhānaṃ”. Tại sao vậy? Vì do sự suy xét thấu đáo về đối tượng như kasiṇa… Còn minh sát trí-Đạo-Quả {vipassanā-magga-phala} được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ*”. Tại sao vậy? Vì do sự suy xét thấu đáo về trạng thái. Thật vậy, ở đây, vipassanā mà suy xét thấu đáo các trạng thái như vô thường… thì được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”, còn chức năng suy xét thấu đáo của vipassanā ấy mà được kiện toàn nhờ tâm Đạo {maggena}, chính Magga ấy cũng được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”. Còn tâm Quả {phalaṃ mà suy xét thấu đáo về trạng thái đúng/chân tướng của sự Diệt {nirodhassa=Nibbānassa} cũng được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”.) / *Sn-ṭhā.69: ***Jhānan***ti paccanīkajhāpanato ārammaṇalakkhaṇūpanijjhānato ca cittaviveko [Dhp-ṭhā.i.p345: Tattha ***kāyaviveko*ti kāyassa ekībhāvo. Cittavivekoti aṭṭha samāpattiyo. Upadhivivekoti nibbānaṃ. Tesu kāyaviveko gaṇasaṅgaṇikaṃ vinodeti, cittaviveko kilesasaṅgaṇikaṃ vinodeti, upadhiviveko saṅkhārasaṅgaṇikaṃ vinodeti. Kāyaviveko cittavivekassa paccayo hoti, cittaviveko upadhivivekassa paccayo hoti. (Trong đó, trạng thái 1 mình của thân được gọi là “kāyaviveko – thân viễn ly”. Tám thiền chứng được gọi là “cittaviveko – tâm viễn ly”. Nibbāna được gọi là “upadhiviveko – ái viễn ly”. Trong 3 loại ấy, kāyaviveko loại trừ được hội nhóm, cittaviveko loại trừ được nhóm phiền não, còn upadhiviveko loại trừ được nhóm pháp hữu vi. Kāyaviveko làm duyên cho cittaviveko khởi sanh, và cittaviveko làm duyên cho upadhiviveko khởi sanh.)] vuccati. Tattha aṭṭhasamāpattiyo nīvaraṇādipaccanīkajhāpanato ārammaṇūpanijjhānato ca jhānanti vuccati {=vuccanti}, vipassanāmaggaphalāni sattasaññādipaccanīkajhāpanato, lakkhaṇūpanijjhānatoyeva cettha phalāni. Idha pana ārammaṇūpanijjhānameva adhippetaṃ. (“Jhāna” được gọi là “cittaviveko” do sự phá hủy pháp đối nghịch và vì là loại thiền suy xét thấu đáo về cảnh. Ở đấy, 8 thiền chứng được gọi là “jhānaṃ” do sự phá huỷ pháp đối nghịch như các chướng pháp{nīvaraṇa} và vì là loại thiền suy xét thấu đáo về cảnh; các minh sát trí-Đạo-Quả cũng được gọi là “jhānaṃ” do sự phá huỷ pháp đối nghịch như nhận thức tà kiến về chúng sanh{sattasaññā}…; và các tâm Quả{phalāni} cũng được gọi là “jhānaṃ” do sự suy xét thấu đáo về trạng thái.)