Kāmogho

S-ṭhā.1.246: Tattha kiñcāpi yo catubbidhamoghaṃ tarati, so saṃsāraṇṇavampi tarati, vaṭṭadukkhampi acceti, kilesamalāpi parisujjhati, evaṃ santepi pana yasmā assaddho oghataraṇaṃ asaddahanto na pakkhandati, pañcasu kāmaguṇesu cittavossaggena pamatto tattheva visattattā saṃsāraṇṇavaṃ na tarati, kusīto dukkhaṃ viharati vokiṇṇo akusalehi dhammehi, appañño suddhimaggaṃ ajānanto na parisujjhati, tasmā tappaṭipakkhaṃ dassentena bhagavatā ayaṃ gāthā vuttā. [Trong đó, bất kỳ ai vượt qua 4 dòng nước lũ (1/dục cường lưu-kāmogho = pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo – dục ái trong 5 cảnh dục*,* 2/hữu cường lưu-bhavogho = rūpārūpabhavesu chandarāgo – dục ái trong cõi Sắc & cõi Vô sắc*,* 3/kiến cường lưu-diṭṭhogho = dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo – 62 loại tà kiến*,* 4/vô minh cường lưu-avijjogho = catūsu saccesu aññāṇaṃ - bất tri trong 4 đế), người ấy cũng vượt qua biển luân hồi (saṃsāraṇṇavampi), cũng thoát khỏi khổ luân hồi (vaṭṭadukkhampi), cũng được thanh tịnh khỏi bụi phiền não; nhưng trong lúc như vậy vì kẻ bất tín thì không vượt qua được dòng nước lũ (oghataraṇanti oghataraṇapaṭipattiṃ) khi đang không tịnh tín; vì kẻ phóng dật (pamatto) với tâm buông lơi trong 5 cảnh dục thì không vượt qua được biển luân hồi do bám chấp ngay ở đấy (=5 cảnh dục); vì kẻ biếng nhác (kusīto) sống khổ đau khi kết hợp với các ác pháp; vì kẻ vô trí không được tịnh hoá khi không biết về con đường thanh tịnh (suddhimaggaṃ), nên bài kệ này được Thế Tôn nói đến lúc Ngài đang nói về sự đối nghịch với điều ấy