Ogho

D-ṭhā.i.p129: Yañca jalaṃ taḷākaṃ gahetuṃ na sakkoti, ajjhottharitvā gacchati, taṃ oghoti vuccati. [Nước nào mà không thể giữ lại trong hồ, tràn ra & chảy đi, đó được gọi là “ogho – dòng nước lũ”]

S-ṭhā.1.p16: Sabbopi cesa avahananaṭṭhena rāsaṭṭhena ca ***ogho***ti veditabbo. ***Avahananaṭṭhenā***ti adhogamanaṭṭhena. Ayañhi attano vasaṃ gate satte adho gameti, nirayādibhedāya duggatiyaṃyeva nibbatteti, uparibhāvaṃ vā nibbānaṃ gantuṃ adento adho tīsu bhavesu catūsu yonīsu pañcasu gatīsu sattasu viññāṇaṭṭhitīsu navasu sattāvāsesu ca gametītipi attho. Rāsaṭṭhenāti mahantaṭṭhena. Mahā heso kilesarāsi avīcito paṭṭhāya yāva bhavaggā patthaṭo, yadidaṃ pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo nāma. [Và tất cả điều ấy được hiểu là “ogho” theo nghĩa cuốn trôi (avahananaṭṭhena) và theo nghĩa chất đống (rāsaṭṭhena). “Avahananaṭṭhena – theo nghĩa cuốn trôi” tức theo nghĩa cuốn trôi xuống. Thật vậy, có nghĩa là ogho nhấn chìm chúng sanh mà bị nó chi phối xuống, khiến sanh vào khổ cảnh với sự phân loại như địa ngục…, và nhấn chìm chúng sanh trong 3 giới (bhavesu), 4 loài (yonīsu), 5 cõi (gatīsu), 7 thức trú (viññāṇaṭṭhitīsu) và 9 chỗ trú của chúng sanh (sattāvāsesu) khi không cho đạt đến Nibbāna cao thượng. “Rāsaṭṭhena – theo nghĩa chất đống” tức theo nghĩa rộng lớn. Thật vậy, đống phiền não to lớn ấy trải dài từ cõi địa ngục Avīci (avīcito) cho đến cõi cao nhất (bhavaggā), tức được gọi là “chandarāgo – dục ái (chanda=dubbalataṇhā=nhược ái & rāgo=balavataṇhā=cường ái)” trong 5 cảnh dục.]