Saddhāya tarati oghan

Evaṃ vuttāya cetāya yasmā sotāpattiyaṅgapadaṭṭhānaṃ saddhindriyaṃ, tasmā ***saddhāya tarati oghan***ti iminā padena diṭṭhoghataraṇaṃ sotāpattimaggaṃ sotāpannañca pakāseti. Yasmā pana sotāpanno kusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanāya sātaccakiriyasaṅkhatena appamādena samannāgato dutiyamaggaṃ ārādhetvā ṭhapetvā sakidevimaṃ lokaṃ āgamanamaggaṃ avasesaṃ sotāpattimaggena atiṇṇaṃ bhavoghavatthuṃ saṃsāraṇṇavaṃ tarati, tasmā ***appamādena aṇṇavan***ti iminā padena bhavoghataraṇaṃ sakadāgāmimaggaṃ sakadāgāmiñca pakāseti. Yasmā ca sakadāgāmī vīriyena tatiyamaggaṃ ārādhetvā sakadāgāmimaggena anatītaṃ kāmoghavatthuṃ kāmoghasaññitañca kāmadukkhamacceti, tasmā ***vīriyena dukkhamaccetī***ti iminā padena kāmoghataraṇaṃ anāgāmimaggaṃ anāgāmiñca pakāseti. Yasmā pana anāgāmī vigatakāmasaññāya parisuddhāya paññāya ekantaparisuddhaṃ catutthamaggapaññaṃ ārādhetvā anāgāmimaggena appahīnaṃ avijjāsaṅkhātaṃ paramamalaṃ pajahati, tasmā ***paññāya parisujjhatī***ti, iminā padena avijjoghataraṇaṃ arahattamaggañca arahattañca pakāseti. Imāya ca arahattanikūṭena kathitāya gāthāya pariyosāne yakkho sotāpattiphale patiṭṭhāsi. [Và khi điều ấy được nói đến như vậy, vì (yasmā) tín pháp chủ (saddhindriyaṃ) là nền tảng/nhân gần cho Nhập Lưu chi (sotāpattiyaṅgapadaṭṭhānaṃ), nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Nhâp Lưu Đạo đoạn tận được kiến cường lưu (diṭṭhoghataraṇaṃ) và về bậc Nhập Lưu bằng câu này “saddhāya tarati oghaṃ - vị ấy vượt qua cường lưu nhờ đức tin”. Còn vì (yasmā) bậc Nhập Lưu là người mà có sự cẩn trọng (appamādena) đã được thực hiện liên tục nhờ sự trưởng dưỡng các thiện pháp (nên) đạt được & an trú Nhị Đạo (=Nhất Lai Đạo, sakadāgāmimagga), rồi vượt qua được biển luân hồi là đối tượng của hữu cường lưu (bhavoghavatthuṃ) mà chưa được vượt qua (atiṇṇaṃ) trước đó nhờ Nhập Lưu Đạo và vượt qua được phần còn sót lại của con đường dẫn trở lại cõi Dục này 1 lần nữa, nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Nhất Lai đoạn tận được hữu cường lưu (bhavoghataraṇaṃ) và bậc Nhất Lai bằng câu này “appamādena aṇṇavaṃ - vượt biển nhờ sự cẩn trọng”. Và vì (yasmā) bậc Nhất Lai đạt được Tam Đạo (=Bất Lai Đạo, anāgāmimagga) nhờ sự tinh cần, rồi thoát khỏi cái được biết là dục cường lưu là đối tượng của dục cường lưu mà chưa được vượt qua (anatītaṃ??) trước đó nhờ Nhất Lai Đạo và thoát khỏi dục-khổ (kāmanaṭṭhena kāmo ca so dukkho cāti kāmadukkhantikāmo theo nghĩa ái luyến và khổ ấy gọi chung là “kāmadukkhaṃ - dục-khổ”), nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Bất Lai Đạo đoạn tận được dục cường lưu (kāmoghataraṇaṃ) và bậc Bất Lai bằng câu này “vīriyena dukkhamacce – thoát khỏi khổ nhờ tinh cần”. Còn vì (yasmā) bậc Bất Lai đạt được trí trong Tứ Đạo (=Ưng Cúng Đạo, arahattamagga) thanh tịnh tuyệt đối nhờ trí tịnh hoá dục tưởng mà đã được tẩy trừ (assādanaṭṭhena kāmo eva saññāti kāmasaññā, sabbaso samucchinnattā vigatā kāmasaññā etissāti vigatakāmasaññā – nhận thức về dục theo nghĩa hưởng thụ được gọi là “kāmasaññā – dục tưởng”, dục tưởng mà được tẩy trừ, diệt tận hoàn toàn cho trí ấy được gọi là “vigatakāmasaññā – dục tưởng đã được tẩy trừ”) và diệt trừ được cấu uế tối thượng vô minh mà chưa từng được diệt trừ trước đó nhờ Bất Lai Đạo, nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Ưng Cúng Đạo đoạn tận được vô minh cường lưu (avijjoghataraṇaṃ) và bậc Ưng Cúng bằng câu này “paññāya parisujjhati – được tịnh hoá nhờ trí tuệ”. Khi kết thúc kệ ngôn mà có thể dẫn đến Arahatta này, dạ-xoa Āḷavaka đã được an trú vào Nhập Lưu Quả.