TNPCII-Bài 03A.11

Đề: Sabbe saṅkhārā aniccā’ti, Yadā paññāya passati, Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā*.* (Dhp. 277)

Văn xuôi: Yadā so sabbe saṅkhārā aniccā’ti paññāya passati, atha (so) dukkhe nibbindati. Esa maggo visuddhiyā hoti.

Dịch: Khi nào vị ấy thấy bằng tuệ rằng ‘Tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường’; lúc đó, vị ấy nhàm chán trong sự khổ. (Vipassanā) ấy chính là con đường cho sự thanh tịnh (ñāṇadassanavisuddhi & accantavisuddhi). Vị ấy nhàm chán trong sự khổ khi thấy được bằng tuệ rằng “‘Tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường”. Đây là con đường của sự thanh tịnh.

Chú giải:

A. ni. 3. 137**:** Aniccā’ti hutvā abhāvatthena aniccā. (Sự vô thường có rồi mất nên được gọi là ‘aniccā**’).

Dhp-ṭhā.ii.277: Sabbe saṅkhārā**ti kāmabhavādīsu uppannā khandhā tattha tattheva nirujjhanato ***aniccā***ti yadā vipassanāpaññāya [D-abhinavatī.i-b.402: ***vipassanāpaññā***ti maggasaccassa, paramatthasaccassa ca anulomanato saccānulomikasaññitā(=maggasaccassa anulomikattā) vipassanāpaññā, lokiyamattato paññāva. (Minh sát tuệ được biết là thuận theo 4 đế do sự thuận hướng đến đạo đế{maggasaccassa} và chân đế{paramatthasaccassa})] passati, atha imasmim khandhapariharaṇadukkhe nibbindati, nibbindanto dukkhaparijānanādivasena saccāni paṭivijjhati. Esa maggo visuddhiyāti visuddhatthāya vodānatthāya esa maggoti attho. [“Sabbe saṅkhārā” tức khi nào người ấy thấy bằng minh sát tuệ rằng “Các uẩn mà đã khởi sanh trong 4 phạm trù gồm Dục {kāmabhava}, Sắc {rūpabhava}, Vô sắc {arūpabhava}, Siêu thế{lokuttara} đều là vô thường do sự biến hoại từ chỗ này đến chỗ kia”; lúc đó, người ấy nhàm chán trong sự khổ bao phủ các uẩn này. Vị đang nhàm chán thấu triệt được 4 đế nhờ sự hiểu thấu về khổ{dukkhaparijānana}… Trong câu “Esa maggo visuddhiyā”, ấy/đó{esa} có nghĩa là con đường vì mục đích tịnh hoá, vì mục đích thanh tịnh.]

Thera-ṭhā.ii.678: Tattha sabbe saṅkhārā**ti chaḷārammaṇasaṅgahā sabbe tebhūmakā pañcakkhandhā. Aniccā*ti “ādimajjhaantavantato, aniccantikato, tāvakālikato [Vbh-mūlaṭī.i.p37: Sadā abhāvepi ciraṭṭhānaṃ siyāti taṃnivāraṇatthaṃ “tāvakālikato”ti āha. (Vì để ngăn điều này “có sự trường tồn nơi cái vô thường” nên mới nói “tāvakālikato”)], tattha tattha bhijjanato na niccā”ti yadā vipassanāpaññāya passati. Atha nibbindati dukkheti atha imasmiṃ vaṭṭadukkhe nibbindati, nibbindanto dukkhaparijānanādividhinā saccāni paṭivijjhati. Esa maggo visuddhiyāti esa yathāvutto vipassanāvidhi ñāṇadassanavisuddhiyā [D-ṭhā.iii.359: ñāṇadassanavisuddhīti rathavinīte maggo kathito, idha vuṭṭhānagāminivipassanā. (“Ñāṇadassanavisuddhi” chính là tâm Đạo mà được nói đến trong kinh Trạm xe, ở đây Đạo ấy là minh sát dẫn vượt thoát luân hồi.) / Psm-ṭhā.i.p119: Ñāṇadassanavisuddhīti catuariyamaggapaññā. Sā hi samucchedato sakasakamaggavajjhakilesamalaṃ visodheti. (4 trí thánh Đạo được gọi là “ñāṇadassanavisuddhi”. Trí này chắc chắn tịnh hoá cấu uế mà đã được diệt trừ bởi từng Đạo một{sakasakamagga} nhờ sự diệt tận{samucchedato})], accantavisuddhiyā{=nibbānaṃ} ca maggo adhigamupāyo. [Trong đó, tất cả 5 uẩn thuộc tam giới{tebhūmakā} gồm chung trong 6 cảnh đều được gọi là “sabbe saṅkhārā”. “Aniccā” tức khi nào 1 người thấy bằng minh sát tuệ rằng “Các hành là vô thường{na niccā} vì chúng có điểm đầu-điểm giữa-điểm cuối{sanh-trụ-diệt}, vì chúng có sự kết thúc là vô thường{aniccantikato}, vì chúng có sự chớp nhoáng{tāvakālikato=taṅkhaṇikatāya}, và vì chúng có sự tan rã chỗ này chỗ kia”; khi đó, vị ấy nhàm chán trong khổ luân hồi này và thấu triệt được 4 đế bằng sự hiểu rõ về khổ đế… nhờ sự nhàm chán ấy, do vậy nên mới được gọi là “Atha nibbindati dukkhe”. Trong câu “Esa maggo visuddhiyā*”, thiền minh sát{vipassanāvidhi} mà được gọi là “esa” ám chỉ con đường hay phương cách cho trí kiến thanh tịnh{ ñāṇadassanavisuddhi=4 magga} và cho tuyệt đối thanh tịnh{accantavisuddhi=Nibbāna}]

Saddanīti-dhā.p19: Dukkhanti dukkhayatīti dukkhaṃ. Yassuppajjati, taṃ dukkhitaṃ karotīti attho. [Cái gây khổ đau được gọi là “dukkhaṃ”, tức có nghĩa người ấy bị khổ đau khi khổ xuất hiện.]

Psm-ṭhā.i.32-33: Anekāni hi dukkhāni. Seyyathidaṃ – dukkhadukkhaṃ, vipariṇāmadukkhaṃ, saṅkhāradukkhaṃ, paṭicchannadukkhaṃ, appaṭicchannadukkhaṃ, pariyāyadukkhaṃ, nippariyāyadukkhanti. Ettha kāyikacetasikā dukkhā vedanāsabhāvato ca nāmato ca dukkhattā dukkhadukkhanti vuccati. Sukhā vedanā vipariṇāmena dukkhuppattihetuto *vipariṇāmadukkhaṃ. Upekkhāvedanā ceva avasesā ca tebhūmakasaṅkhārā udayabbayapaṭipīḷitattā saṅkhāradukkhaṃ. Kaṇṇasūla/dantasūla/rāgaja-pariḷāha/dosaja-pariḷāhādi kāyikacetasiko ābādho pucchitvā jānitabbato upakkamassa ca apākaṭabhāvato paṭicchannadukkhaṃ**. Dvattiṃsakammakāraṇādisamuṭṭhāno ābādho apucchitvāva jānitabbato upakkamassa ca pākaṭabhāvato appaṭicchannadukkhaṃ**. Ṭhapetvā dukkhadukkhaṃ sesaṃ dukkhasaccavibhaṅge (vibha. 190 ādayo) āgataṃ jātiādi sabbampi tassa tassa dukkhassa vatthubhāvato pariyāyadukkhaṃ**. Dukkhadukkhaṃ pana nippariyāyadukkhanti vuccati. [Thật vậy, có nhiều loại khổ{dukkha} bao gồm: 1/khổ khổ{dukkhadukkhaṃ}, 2/khổ biến hoại{vipariṇāmadukkhaṃ}, 3/khổ hữu vi{saṅkhāradukkhaṃ}, 4/khổ bao phủ {paṭicchannadukkhaṃ}, 5/khổ hiện lộ {appaṭicchannadukkhaṃ}, 6/khổ nguyên nhân{pariyāyadukkhaṃ}, 7/ khổ phi nguyên nhân/khổ bản chất {nippariyāyadukkhaṃ}. Ở đây, sự khổ thuộc thân lẫn tâm được gọi là “dukkhadukkhaṃ” do là trạng thái khổ{dukkhattā} từ bản chất thuộc về cảm thọ{vedanāsabhāvato} và từ tên gọi{nāmato}. Do sự biến hoại, nên thọ lạc{sukhavedanā} được gọi là “vipariṇāmadukkhaṃ* vì là nguyên nhân phát sanh khổ{dukkhuppattihetuto}. Thọ xả{upekkhāvedanā} và các hành thuộc tam giới còn lại được gọi là “saṅkhāradukkhaṃ” do trạng thái áp bức bởi sự sanh-diệt (của chúng). Sự bệnh thuộc thân lẫn tâm như là sự đau tai, sự đau răng, sự nhiệt não sanh do tham, sự nhiệt não sanh do sân… được gọi là “paṭicchannadukkhaṃ” do được biết đến chỉ sau khi thăm hỏi và do trạng thái ẩn kín của phiền não đang phát tác. Sự bệnh mà phát sanh từ 32 hành vi tra tấn{kammakāraṇa: M.i.178} được gọi là “paṭicchannadukkhaṃ” do được biết đến khi không cần thăm hỏi và do trạng thái hiện rõ. Ngoại trừ dukkhadukkha, dukkha còn lại{sesaṃ} được xuất hiện trong Vbh.190 “Khổ đế phân tích”, tất cả chúng đều được gọi là “pariyāyadukkhaṃ” do bản chất là nền tảng cho từng loại khổ{sesaṃ} ấy. Còn dukkhadukkha được gọi là “nippariyāyadukkhaṃ”.