Na hi verenā
Dhp-ṭhā.i.5: Na hi verenāti yathā hi kheḷasiṅghāṇikādīhi asucīhi makkhitaṃ ṭhānaṃ teheva asucīhi dhovantā suddhaṃ niggandhaṃ kātuṃ na sakkonti, atha kho taṃ ṭhānaṃ bhiyyosomattāya asuddhatarañceva duggandhatarañca hoti, evameva akkosantaṃ paccakkosanto paharantaṃ paṭipaharanto verena veraṃ vūpasametuṃ na sakkoti, atha kho bhiyyo bhiyyo verameva karoti. Iti verāni nāma verena kismiñci kāle na sammanti, atha kho vaḍḍhantiyeva. Averena ca sammantīti yathā pana tāni kheḷādīni asucīni vippasannena udakena dhoviyamānāni nassanti, taṃ ṭhānaṃ suddhaṃ hoti sugandhaṃ, evameva averena khantimettodakena yoniso manasikārena paccavekkhaṇena verāni vūpasammanti paṭippassambhanti abhāvaṃ gacchanti. Esa dhammo sanantanoti esa averena verūpasamanasaṅkhāto porāṇako dhammo, sabbesaṃ buddhapaccekabuddhakhīṇāsavānaṃ gatamaggoti. (“Na hi verena” tức giống như những người mà đang dọn sạch chỗ bị bôi trét bởi các vật dơ như nước dãi, nước mũi… bằng chính những vật dơ ấy thì không thể nào làm cho sạch sẽ & thơm tho được, chỗ ấy chỉ dơ & hôi hám hơn mà thôi. Cũng vậy, sự hận thù không thể nào làm lắng dịu/chấm dứt {vūpasametuṃ} được bằng {chính} sự hận thù lúc đang mắng lại người đang mắng mình hoặc lúc đánh lại người đang đánh mình; mà chỉ tạo ra sự hận thù thêm thôi. Như vây, trong mọi thời, cái được gọi là những hận thù không làm lắng đi được bằng chính sự hận thù ấy, mà chỉ làm tăng thêm sự hận thù mà thôi. “Averena ca sammanti” tức giống như các vật dơ như nước dãi… biến mất khi chúng được rửa sạch bằng nước sạch; chỗ ấy trở nên sạch sẽ & thơm tho. Cũng vậy, các sự hận thù chỉ làm lắng dịu, huỷ hoại và làm biến mất được bằng {chính} sự vô hận mà thôi khi chánh quán với loại nước kham nhẫn & từ ái. “Esa dhammo sanantano” tức đó {esa} là pháp cổ xưa mà có đặc tính làm lắng dịu sự thù hận bằng sự vô hận, đó cũng là con đường đã được đi đối với bậc Toàn Giác, bậc Độc Giác & chư Thinh Văn Giác.)