CHÚ GIẢI LỚP PCB2

TNPCII-Bài 01A.14

Đề: Kumbhaghosako kālass’eva vuṭṭhāya Rājagahanagare kammakāre pabodhesi.

Dịch: Sau khi thức dậy vào sáng sớm, Kumbhaghosako đã đánh thức các công nhân trong thành Rājagaha.

Chú giải:

S-ṭī.1.227: Atikālenāti ativiya pubbaṇhakālena, kālassevāti attho. (“atikālena” tức vào sáng sớm.)

D-abhinavatī.i.p358: Kālassevāti pageva. (sáng sớm được gọi là “kālasseva”)

TNPCII-Bài 01A.15

Đề: Mahā-Mahindatthero aññehi catūhi pabbajitehi saddhiṃ Laṅkādīpaṃ āgantvā jineritaṃ saddhammaṃ Laṅkikānaṃ desesi.

Dịch: Sau khi đến đảo Laṅka cùng với bốn vị tỳ khưu khác, ngài đại trưởng lão Mahinda đã thuyết giảng Chánh pháp mà đã được tuyên thuyết bởi Đức Thế Tôn cho người dân Laṅka.

Chú giải:

A.10.147: Saddhammañca vo, bhikkhave, dhammaṃ desessāmi asaddhammañca. Taṃ suṇātha…pe… katamo ca, bhikkhave, asaddhammo? Micchādiṭṭhi…pe… micchāvimutti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaddhammo. Katamo ca, bhikkhave, saddhammo? Sammādiṭṭhi…pe… sammāvimutti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, saddhammo”ti. [Này chư tỳ-khưu, Ta sẽ thuyết chánh pháp{saddhammo} và tà pháp{asaddhammo} cho các ông. Hãy lắng nghe điều ấy… Này chư tỳ-khưu, thế nào là asaddhammo? Tà kiến… tà giải thoát, này chư tỳ-khưu, đây được gọi là asaddhammo. Này chư tỳ-khưu, thế nào là saddhammo? Chánh kiến… chánh giải thoát, này chư tỳ-khưu, đây được gọi là saddhammo.]

Pari-ṭhā.331: Saddhammoti buddhavacanaṃ adhippetaṃ. [saddhammo đồng nghĩa với Phật ngôn.]

S-ṭhā.1.31: Saddhammanti pañcasīladasasīlacatusatipaṭṭhānādibhedaṃ saddhammaṃ. [Saddhammaṃ mà được phân thành 5 giới, 10 giới, 4 chỗ trú niệm… đều được gọi là “saddhammaṃ”]

Net-thā-P.10: Sutamayañāṇagocaro ca yo “pariyatti***saddhammo”ti vuccati. Cintāmayañāṇagocaro ca yo ākāraparivitakkadiṭṭhinijjhānakkhantīhi gahetabbākāro vimuttāyatanaviseso “paṭipattisaddhammo”ti vuccati. Vipassanāñāṇādisahagato bhāvanāmayañāṇagocaro ca yo “paṭivedhasaddhammo***“ti vuccati. [Đối tượng cho Trí do nghe{sutamayañāṇa} thì được gọi là “pariyattisaddhammo-học chánh pháp”. Và đối tượng cho Trí do suy tư{cintāmayañāṇa} là pháp nên được thực hành{gahetabbākāro} nhờ trạng thái{ākāra}, nhờ suy xét{parivitakka}, nhờ chánh kiến{diṭṭhi}, nhờ hiểu rõ{nijhāna}, nhờ kham nhẫn{khanti}, và thuộc phạm trù giải thoát{vimuttāyatanaviseso}, nên được gọi là “paṭipattisaddhammo-hành chánh pháp”. Và đối tượng cho Trí do tu tập{bhāvanāmayañāṇa} kết hợp cùng minh sát trí… được gọi là “paṭivedhasaddhammo-đạt chánh pháp”.

Net-ṭī.7: Cintāmayañāṇeyeva hi patiṭṭhitā mahābodhisattā carimabhave vipassanaṃ ārabhanti, itare sutacintāmayañāṇesūti. [Thật vậy, chư bồ-tát Toàn giác mà đã an trú chính nhờ vào Trí do suy tư{cintāmayañāṇe} tiến hành minh sát vào kiếp chót, còn những chúng sanh khác tiến hành minh sát vào kiếp chót khi đã an trú vào Trí do nghe{sutamayañāṇa} và Trí do suy tư{cintāmayañāṇa}.]

Pārā-ṭhā.i.39**:** Tividho saddhammo – pariyattisaddhammo, paṭipattisaddhammo, adhigamasaddhammoti. Tattha piṭakattayasaṅgahitaṃ sabbampi buddhavacanaṃ “pariyattisaddhammo” nāma. Terasa dhutaguṇā, cuddasa khandhakavattāni, dveasīti mahāvattāni, sīlasamādhivipassanāti ayaṃ “paṭipattisaddhammo” nāma. Cattāro ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni nibbānañcāti ayaṃ “adhigamasaddhammo” nāma. [Có 3 loại chánh pháp{saddhammo}: 1/học chánh pháp{pariyatti}, 2/hành chánh pháp{paṭipatti}, 3/đạt chánh pháp{adhigama}. Trong đó, toàn bộ Phật ngôn trong Tam tạng được gọi là “pariyattisaddhammo”. 13 yếu tố thiêu đốt{dhutaguṇā}, 14 phận sự lớn{mahāvattāni} trong Khandhaka, 82 phận sự nhỏ{khuddakavattāni}, giới-định-minh sát đều được gọi là “paṭipattisaddhammo”. 4 Đạo, 4 Quả & Nibbāna đều được gọi là “adhigamasaddhammo”.]

Udā-thā-P.204: Gocaro pana upanissayagocaro ārakkhagocaro upanibandhagocaroti tividho. Tattha yo dasakathāvatthuguṇasamannāgato vuttalakkhaṇo kalyāṇamitto, yaṃ nissāya asutaṃ suṇāti, sutaṃ pariyodāpeti, kaṅkhaṃ vitarati, diṭṭhiṃ ujuṃ karoti, cittaṃ pasādeti, yañca anusikkhanto saddhāya vaḍḍhati, sīlena, sutena, cāgena, paññāya vaḍḍhati, ayaṃ vuccati upanissayagocaro**. Yo bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno okkhittacakkhu yugamattadassāvī cakkhundriyasaṃvutova gacchati, na hatthiṃ olokento, na assaṃ, na rathaṃ, na pattiṃ, na itthiṃ, na purisaṃ olokento, na uddhaṃ olokento, na adho olokento, na disāvidisaṃ pekkhamāno gacchati, ayaṃ ārakkhagocaro**. Upanibandhagocaro pana cattāro satipaṭṭhānā, yattha bhikkhu attano cittaṃ upanibandhati. [Còn gocaro-đối tượng có 3 loại gồm: 1/đối tượng nương nhờ{upanissayagocaro}, 2/đối tượng phòng hộ{ārakkhagocaro}, 3/đối tượng khắng khít{upanibandhagocaro}. Trong đó, người nào lắng nghe điều chưa từng được nghe do dựa vào bậc thiện hữu được nói đến là người có phẩm chất thuộc 10 đề tài, làm sáng tỏ điều đã được nghe, loại trừ nghi hoặc, củng cố chánh kiến, vui thích trong tâm, tăng trưởng với đức tin, với giới, với điều đã nghe, với xả thí, với tuệ lúc đang tu học điều ấy, đây được gọi là “upanissayagocaro”. Lúc đi vào làng{ antaragharaṃ=gocaragāmaṃ} hoặc đi trên đường, vị tỳ-khưu nào đi khất thực chính người ấy là người có mắt đã nhìn xuống{okkhittacakkhu}, là người nhìn phía trước khoảng 1 cán cày{yugamattadassāvī}, và là người phòng hộ nhãn căn; hoặc đi khất thực mà không để ý đến voi, ngựa, xe, người đi bộ, nữ, nam, phía trên, phía dưới hoặc không xao lãng các hướng; đây được gọi là “ārakkhagocaro”. Còn 4 chỗ trú niệm là nơi mà vị tỳ-khưu khắng khít tâm của mình vào đấy, đây được gọi là “upanibandhagocaro”.]

TNPCII-Bài 02A.01

Đề: (Sac’āyaṃ kumāro āgāraṃ ajjhāvasati rājā bhavissati cakkavattī.)

(D-ṭhā.ii.p24) Brāhmaṇā āhaṃsu - “Mā cintayi, mahārāja (ahosi), deviyā te kucchimhi gabbho patiṭṭhito (ahosi). So ca kho purisagabbho na itthigabbho, putto te bhavissati. So sace agāraṃ ajjhāvasissati, rājā bhavissati cakkavattī. Sace (so) agārā nikkhamma pabbajissati, buddho bhavissati loke vivaṭṭacchado*“ti.*

Dịch: Các Bà-la-môn đã đáp rằng “Thưa đại vương, (ngài) chớ lo nghĩ. Bào thai đã hình thành trong bụng của hoàng hậu của ngài. Và bào thai ấy là bào thai nam chứ không phải bào thai nữ. Con trai sẽ có cho ngài / ngài sẽ có con trai. Nếu (hoàng tử) ấy sống tại gia, (ngài ấy) sẽ là chuyển luân vương. Nếu (hoàng tử) ấy rời nhà xuất gia, ngài ấy sẽ trở thành bậc Giác ngộ, bậc Phá vỡ sự che đậy ở thế gian.”

Chú giải:

D-ṭhā.i.p223*:* Loke vivaṭṭacchadoti ettha rāgadosamohamānadiṭṭhiavijjāduccaritachadanehi sattahi paṭicchanne kilesandhakāre loke taṃ chadanaṃ vivaṭṭetvā samantato sañjātāloko hutvā ṭhitoti vivaṭṭacchado. (Khi thế gian bị che phủ bởi bóng tối phiền não với 7 sự che phủ: 1-Tham, 2-Sân, 3-Si, 4-Mạn, 5-Kiến, 6-Vô minh, 7-Ác hạnh; Bậc Phá vỡ bức màn ấy, khiến ánh sáng khởi sanh muôn nơi và an trú (như vậy) được gọi là Vivaṭṭacchado - Bậc phá vỡ sự che đậy’.

Ap-ṭhā.ii.19: ***Vivaṭṭacchado***ti rāgo chadanaṃ, doso chadanaṃ, moho chadanaṃ, sabbakilesā chadanā’’ti evaṃ vuttā chadanā vivaṭā ugghāṭitā viddhaṃsitā anenāti vivaṭṭacchado, sambuddho. (Nhờ ai mà các sự che đậy được nói đến như vậy ‘Tham là sự che đậy, Sân là sự che đậy, Si là sự che đậy, tất cả phiền não là sự che đậy’ được mở toang, được phá vỡ, được huỷ hoại, Bậc ấy được gọi là ‘Vivaṭṭacchado, Sambuddho’.)

TNPCII-Bài 02A.06

Đề: (S.1.73)

1) Kiṃsūdha vittaṃ purisassa seṭṭhaṃ, kiṃsu suciṇṇo sukhamāvahati;

Kiṃsu have sādutaraṃ [sādhutaraṃ (ka.)] rasānaṃ, kathaṃjīviṃ [kiṃsujīviṃ (ka.)] jīvitamāhu seṭṭha’’nti.

2) Saddhīdha vittaṃ purisassa seṭṭhaṃ, dhammo suciṇṇo sukhamāvahati*;*

Saccaṃ have sādutaraṃ rasānaṃ, paññājīviṃ jīvitamāhu seṭṭha’’n**ti.

Văn xuôi:

1) Purisassa kiṃsūdha seṭṭhaṃ vittaṃ (hoti). Kiṃsu suciṇṇo sukhaṃ āvahati.Rasānaṃ kiṃsu have sādutaraṃ rasaṃ (hoti). Kathaṃ jīviṃ seṭṭhaṃ jīvitaṃ (jīvatīti) devā āhu.

2) Purisassa saddhīdha seṭṭhaṃ vittaṃ (hoti). Suciṇṇo dhammo sukhaṃ āvahati.Rasānaṃ saccaṃ have sādutaraṃ rasaṃ (hoti). Paññājīviṃ seṭṭhaṃ jīvitaṃ (jīvatīti) Buddhā āhu.

Dịch:

  1. Ở đây, chư thiên bảo rằng: “Tài sản gì của con người là ưu việt? Điều mà được khéo thực hành gì mang đến an lạc? Vị gì chắc chắn là vị ngọt hơn trong số các vị? Đời sống ưu việt diễn ra cho người sống như thế nào?”

  2. (Chư Phật) dạy rằng: “Ở đây, đức tin là tài sản ưu việt của con người. Pháp mà được khéo thực hành mang đến sự an lạc. Sự thật chắc chắn là vị ngọt hơn/tối ưu trong các vị. Đời sống ưu việt diễn ra cho người sống có trí tuệ.”

Chú giải:

S-ṭhā.1.73: ***Dhammo***ti dasakusalakammapatho. (Pháp là mười thiện nghiệp.)

***** S-ṭhā.1.73: *Sukhamāvahatīti sabbampi sāsavānāsavaṃ asaṃkiliṭṭhasukhaṃ āvahati. (Pháp mang đến sự an lạc vô cấu uế thuộc hữu lậu và vô lậu.) / A-ṭhā.2.68: Sāsavasukhanti āsavānaṃ paccayabhūtaṃ vaṭṭasukhaṃ. Anāsavasukhanti tesaṃ apaccayabhūtaṃ vivaṭṭasukhaṃ. (Lạc luân hồi mà là duyên cho các lậu hoặc gọi là ‘sāsavasukhaṃ’. Lạc xuất luân hồi mà không làm duyên cho chúng gọi là ‘anāsavasukha’)

S-ṭhā.1.73: Sādutaranti lokasmiṃ loṇambilādīnaṃ sabbarasānaṃ saccameva madhurataraṃ. (Chính sự thật là vị ngọt nhất trong tất cả các vị vì thế nên gọi là ‘sādutaraṃ’)

S-ṭhā.1.73: ***Paññājīviṃ jīvitamāhu seṭṭhan***ti yo paññājīvī gahaṭṭho samāno pañcasu sīlesu patiṭṭhāya salākabhattādīni paṭṭhapetvā paññāya jīvati, pabbajito vā pana dhammena uppanne paccaye ‘‘idamattha’’nti paccavekkhitvā paribhuñjanto kammaṭṭhānaṃ ādāya vipassanaṃ paṭṭhapetvā ariyaphalādhigamavasena paññāya jīvati, taṃ paññājīviṃ puggalaṃ seṭṭhaṃ jīvitaṃ jīvatīti āhu. (Chư Phật dạy rằng: “Đời sống ưu việt diễn ra cho người sống có trí tuệ.”???)

TNPCII-Bài 02A.07

Đề: (A.1.77) Appamattikā esā, bhikkhave, vuddhi yadidaṃ ñātivuddhi. Etadaggaṃ, bhikkhave, vuddhīnaṃ yadidaṃ paññāvuddhi. Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ – “paññāvuddhiyā vaddhissāmā”ti; evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban’ti.

Dịch: Này các Tỳ-khưu, sự tăng trưởng này là nhỏ nhoi, tức là sự tăng trưởng quyến thuộc. Này các Tỳ-khưu, điều ấy là ưu việt/tối thượng trong số các sự tăng trưởng, chính là sự tăng trưởng trí tuệ. Do vậy, ở đây này các Tỳ-khưu, điều này nên được học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ phát triển với sự phát triển trí tuệ.’ Thật vậy này các Tỳ-khưu, điều ấy nên được học tập bởi các ông.

Chú giải:

A-ṭhā.1.77**:** Tattha appamattikāti taṃ sampattiṃ nissāya saggaṃ vā maggaṃ vā sampattānaṃ abhāvato parittā. (Ở đây, với sự thành tựu ấy là nhỏ nhoi do không đạt được/dẫn đến thiên giới hoặc Đạo quả đối với người đã thành tựu chúng, được gọi là ‘appamattikā’.)

A-ṭhā.1.77**:** Yadidaṃ paññāvuddhīti kammassakatapaññādīnaṃ vuddhi. (‘Yadidaṃ paññāvuddhi’ tức là sự tăng trưởng đối với chánh kiến về nghiệp quả, v.v…)

A-ṭhā.1.77**:** Tasmāti yasmā ñātīnaṃ vuddhi nāma diṭṭhadhammikamattā appā parittā, sā saggaṃ vā maggaṃ vā pāpetuṃ asamatthā. (“Tasmā” tức là vì sự tăng trưởng quyến thuộc chắc chắn là nhỏ nhoi/ít ỏi thuộc đời này nên sự tăng trưởng ấy không thể đạt đến thiên giới hoặc Đạo quả.)

TNPCII-Bài 02A.10

Đề: Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā. `

Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;

Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī’’ti. (Dhp.2)

Văn xuôi: Manopubbaṅgamā manoseṭṭhā manomayā dhammā (honti). (Yo) ce pasannena manasā bhāsati vā karoti vā, tato anapāyinī chāyāva sukhaṃ taṃ anveti.

Dịch: Các pháp có ý dẫn đầu, có ý vượt trội, được tạo ra từ ý. Nếu người ấy nói hoặc làm với ý thanh tịnh, từ đó sự an lạc theo sau người ấy, ví như cái bóng không tách rời (thân).

Chú giải:

Dhp-ṭhā.2**:** ***Manoti somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttacittameva (‘mano’ chính là tâm tương ưng trí kết hợp với hỷ). *Pubbaṅgamāti tena paṭhamagāminā hutvā samannāgatā (Các pháp có được nhờ có ý dẫn đầu). ***Dhammā***ti vedanādayo tayo khandhā (Ba uẩn như thọ… được gọi là Dhammā). Ete hi uppādapaccayaṭṭhena somanassasampayuttamano pubbaṅgamo etesanti manopubbaṅgamā nāma (Thật vậy, đối với những pháp mà có mano liên hợp hỷ dẫn đầu theo nghĩa duyên trợ sanh, những Pháp ấy được gọi là những Pháp có mano dẫn đầu). Evaṃ adhipativasena pana mano seṭṭho etesanti manoseṭṭhā (Như vậy, đối với những Pháp mà có mano đứng đầu theo nghĩa vượt trội gọi là ‘manoseṭṭhā’). Yathā pana suvaṇṇādīhi nipphāditāni bhaṇḍāni suvaṇṇamayādīni nāma honti, tathā etepi manato nipphannattā manomayā nāma (Cũng giống như các vật mà được tạo từ vàng… thì gọi là ‘được tạo ra từ vàng’. Cũng vậy, các Pháp ấy được tạo ra từ ý thì gọi là ‘được tạo ra từ ý manomayā’). ***Pasannenā***ti anabhijjhādīhi guṇehi pasannena (Với ý thanh tịnh bởi những phẩm chất như vô tham… được gọi là ‘pasannenā’). ***Bhāsati vā karoti vā***ti evarūpena manena bhāsanto catubbidhaṃ vacīsucaritameva bhāsati, karonto tividhaṃ kāyasucaritameva karoti, abhāsanto akaronto tāya anabhijjhādīhi pasannamānasatāya tividhaṃ manosucaritaṃ pūreti. (???). Evamassa dasa kusalakammapathā paripūriṃ gacchanti (Như vậy, mười thiện nghiệp đi đến viên mãn cho vị ấy). ***Tato naṃ sukhamanvetī***ti tato tividhasucaritato naṃ puggalaṃ sukhamanveti. Idha tebhūmikampi kusalaṃ adhippetaṃ, tasmā tebhūmikasucaritānubhāvena sugatibhave nibbattaṃ puggalaṃ, duggatiyaṃ vā sukhānubhavanaṭṭhāne ṭhitaṃ kāyavatthukampi itaravatthukampi avatthukampīti kāyikacetasikaṃ vipākasukhaṃ anugacchati, na vijahatīti attho veditabbo. Yathā kiṃ? ***Chāyāva anapāyinī***ti yathā hi chāyā nāma sarīrappaṭibaddhā sarīre gacchante gacchati, tiṭṭhante tiṭṭhati, nisīdante nisīdati, na sakkoti (‘Tato naṃ sukhamanveti’ nghĩa là sự an lạc theo sau người ấy nhờ 3 thiện nghiệp mà được khéo tu tập. Ở đây sự an lạc của quả lành đồng nghĩa với thiện thuộc 3 cõi vì nó (vipākasukhaṃ) theo sau người ấy khi sanh về lạc cảnh nhờ năng lực thiện hạnh thuộc 3 cõi, hoặc nó theo sau thân và tâm của mình, cũng như của người khác khi ở chỗ mà có thể phát sanh lạc dầu ở khổ cảnh, chứ không mất đi (năng lực của nó). Giống như thế nào? Thật vậy, giống như cái bóng mà cột chặt vào thân này, khi thân đi thì nó đi, khi thân đứng thì nó đứng, khi thân ngồi thì nó ngồi mà không thể tách rời nên được gọi là ‘chāyāva anapāyinī’.

TNPCII-Bài 02A.11

Đề: Ayañhi, deva, kumāro nigrodhaparimaṇḍalo, yāvatakvassa kāyo, tāvatakvassa byāmo; yāvatakvassa byāmo, tāvatakvassa kāyo. Idampissa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṃ bhavati. (D.ii.35)

Dịch: Thật vậy, thưa Đức Vua, vị hoàng tử này là vị có thân tròn đều như cây Nigrodha. Thân của vị ấy chừng nào thì sải tay của vị ấy cũng chừng ấy; sải tay của vị ấy chừng nào thì thân của vị ấy cũng chừng ấy. Đây cũng là đại nhân tướng của bậc Đại Nhân ấy.

Chú giải:

M-ṭī.ii.p174: Nigrodhaparimaṇḍalo viya parimaṇḍalo nigrodhaparimaṇḍalo ekassa parimaṇḍalasaddassa lopaṃ katvā. (Tròn đều ví như tròn đều của cây Nigrodhaparimaṇḍalo, có sự xóa 1 chữ “parimaṇḍalo” (ở đầu) trong hợp từ ấy.)

D-ṭhā.ii.35: ***Nigrodhaparimaṇḍalo***ti nigrodho viya parimaṇḍalo. yathā paṇṇāsahatthatāya vā satahatthatāya vā samakkhandhasākho nigrodho dīghatopi vitthāratopi ekappamāṇova hoti, evaṃ kāyatopi byāmatopi ekappamāṇo (‘Nigrodhaparimaṇḍalo’ tức tròn trịa ví như cây Nigrodha. Giống như cây Nigrodha khoảng 50 hoặc 100 sải tay mà có thân và nhánh ngang nhau thì đồng nhất về chiều cao cũng như về chiều rộng; Cũng vậy, thân cũng như sải tay thì đồng nhất).

TNPCII-Bài 02A.12

Đề: 130. Kāyaṃ eḷagalāgumbe [eḷagaṇagumbe (ka.)] , karoti ahuhāsiyaṃ;

Nayīdha naccagītaṃ vā [nayidha naccaṃ vā gītaṃ vā (sī. syā. pī.)] , tāḷaṃ vā susamāhitaṃ;

Anamhikāle [anamhakāle (pī.)] susoṇi [sussoṇi (sī. syā. pī.)], kiṃ nu jagghasi sobhane [sobhaṇe (pī. ka.)] (Dhp-ṭhā.ii.p346)

Văn xuôi: Kā ayaṃ eḷagalāgumbe karoti. (Sā) ahuhāsiyaṃ (karoti) idha naccagītaṃ vā susamāhitaṃ tālaṃ vā na (hoti). Kiṃ nu tvaṃ, susoṇi sobhane, anamhikāle jagghasi.

Dịch: “Cô gái nào đang làm gì trong bụi cây eḷagalā vậy?” Cô ấy đang cười lớn (ahuhāsiyaṃ karoti) dù ở đây không có sự nhảy múa hoặc sự ca hát hoặc sự khéo gõ vào nhạc cụ. Này mỹ nữ eo thon! Nàng cười vì lý do gì trong lúc đáng lẽ phải khóc chứ!

Chú giải:

Dhp-ṭhā.ii.p346: ***Kāyan***ti kā ayaṃ. ***Eḷagalāgumbe***ti kambojigumbe. ***Ahuhāsiyan***ti dantavidaṃsakaṃ mahāhasitaṃ vuccati, taṃ kā esā etasmiṃ gumbe karotīti pucchati. ***Nayīdha naccagītaṃ vā***ti imasmiṃ ṭhāne kassaci naccantassa naccaṃ vā gāyantassa gītaṃ vā hatthe susamāhite katvā vādentassa susamāhitaṃ hatthatāḷaṃ vā natthi, kaṃ disvā tvaṃ haseyyāsīti dīpeti. ***Anamhikāle***ti rodanakāle. ***Susoṇī***ti sundarasoṇi. ***Kiṃ nu jagghasī***ti kena kāraṇena tvaṃ rodituṃ yuttakāle arodamānāva mahāhasitaṃ hasasi. ***Sobhane***ti taṃ pasaṃsanto ālapati. (‘Kā ayaṃ’ gọi là ‘Kāyaṃ’. Bụi cây kamboji gọi là ‘Eḷagalāgumbe’. ‘Ahuhāsiyaṃ’ tức là sự cười lớn lộ răng, điều này đặt ra vấn đề là: “Cô gái nào đang làm gì trong bụi cây?”. ‘Nayīdha naccagītaṃ vā’ tức là không có sự nhảy múa của bất kỳ ai đang nhảy múa hoặc không có sự ca hát của bất kỳ ai đang ca hát hoặc không có sự gõ tay một cách khéo léo của bất kỳ ai đang chơi nhạc cụ ngay tại chỗ đấy; điều này giải thích việc bạn thấy gì mà cười vậy. ‘Anamhikāle’ tức lúc đang khóc. ‘Susoṇi’ tức hỡi cô gái eo thon!. ‘Kiṃ nu jagghasi’ tức là vì lý do gì mà bạn cười lớn trong lúc đáng lẽ phải khóc. ‘Sobhane’ tức dùng từ này lúc đang tán thán.

TNPCII-Bài 03A.01

Đề: Manussā āyukkhayena kammakkhayena puññakkhayena ca maranti.

Dịch: Con người/Người ta mệnh chung do hết tuổi thọ, do hết nghiệp và do hết phước.

Chú giải:

Abhs-ṭī.p.187: Satipi kammānubhāve taṃtaṃgatīsu yathāparicchinnassa āyuno parikkhayena maraṇaṃ āyukkhayamaraṇam**. (Dù còn năng lực nghiệp báu, nhưng sự chết do sự chấm dứt hoàn toàn tuổi thọ đối với người đã giới hạn thọ mạng trong những kiếp ấy được gọi là “āyukkhayamaraṇa - chết do hết tuổi thọ”.)

Mahanid-ṭhā.p62: Jātipaccayā maraṇaṃ upakkamamaraṇaṃ sarasamaraṇaṃ āyukkhayamaraṇaṃ puññakkhayamaraṇantipi tasseva nāmaṃ. Puna khaṇikamaraṇaṃ sammutimaraṇaṃ samucchedamaraṇanti ayampi bhedo veditabbo. Pavatte rūpārūpadhammānaṃ bhedo khaṇikamaraṇaṃ nāma. Tisso mato phusso matoti idaṃ paramatthato sattassa abhāvā, sassaṃ mataṃ, rukkho matoti idampi jīvitindriyassa abhāvā sammutimaraṇaṃ nāma. Khīṇāsavassa appaṭisandhikā kālakiriyā samucchedamaraṇaṃ nāma. [Do duyên sanh (jāti) nên có sự chết (maraṇaṃ) gồm 4 loại: 1/ chết do bị tấn công/tai nạn (upakkama-maraṇaṃ), 2/ chết tự nhiên (sarasa-maraṇaṃ), 3/ chết do hết tuổi thọ (āyukkhaya-maraṇaṃ), 4/ chết do hết phước (puññakkhaya-maraṇaṃ). Hơn nữa, sự phân loại về maraṇaṃ này cần được biết là có 3: 1/ chết sát-na (khaṇikamaraṇaṃ {A-ṭī.i.p272: Saṅkhārānaṃ khaṇabhaṅgasaṅkhātaṃ khaṇikamaraṇaṃ. – sự diệt/chết theo sát-na đối với các pháp hữu vi thì được gọi là “khaṇikamaraṇaṃ”}), 2/ chết quy ước (sammutimaraṇaṃ {Vsm-ṭī.i.167: Yaṃ khandhappabandhaṃ upādāya rukkhādisamaññā, tasmiṃ anupacchinnepi allatādivigamanaṃ nissāya matavohāro sammutimaraṇaṃ - “Sammutimaraṇaṃ” là cách gọi ‘cái chết’ dựa vào việc mất đi sự tươi tốt/nhựa sống về tổng quan khi gọi là “cây…” lúc nó chưa tan rã. }), 3/ chết đoạn diệt (samucchedamaraṇaṃ {A-ṭī.i.p272: samucchedamaraṇanti arahato santānassa sabbaso ucchedabhūtaṃ maraṇaṃ. – sự chết mà có đặc tính diệt tuyệt tất cả dòng tương tục/sanh diệt của khandha đối với bậc Arahaṃ thì được gọi là “samucchedamaraṇaṃ”}). Sự diệt (bhedo) của các pháp nāma-rūpa mà đang hiện khởi thì được gọi là “khaṇika-maraṇaṃ”. Câu nói “vị Tissa đã mất, vị Phussa đã mất” này được gọi là “sammutimaraṇaṃ” do không có chúng sanh theo nghĩa tối hậu; câu nói “cây lúa đã chết, cội cây đã chết” này được gọi là “sammutimaraṇaṃ” do không có sự sống (jīvitindriyassa). Sự chết mà không còn tái sanh của bậc Lậu Tận được gọi là “samucchedamaraṇaṃ”]

Vbh-anutī.ii.193: Sammutimaraṇameva hi jātikkhayamaraṇaṃ, taṃ pana jātikkhayamaraṇaṃ upakkamamaraṇaṃ, sarasamaraṇanti duvidhaṃ. Tattha sarasamaraṇampi āyukkhayamaraṇaṃ, puññakkhayamaraṇanti duvidhaṃ. Evametesaṃ tadekadesatā veditabbā. Yañcettha upakkamamaraṇaṃ, taṃ akālamaraṇaṃ. Sarasamaraṇaṃ kālamaraṇaṃ. (Thật vậy, chính sự chết quy ước {sammutimaraṇaṃ} là sự chết ngưng sanh/khái niệm {jātikkhayamaraṇaṃ}; nhưng sự chết ngưng sanh ấy gồm 2 loại: 1/ sự chết do tai nạn {upakkamamaraṇaṃ} & 2/ sự chết tự nhiên {sarasamaraṇaṃ}. Trong đó, chính sự chết tự nhiên cũng có 2 loại: 1/ sự chết do hết tuổi thọ {āyukkhayamaraṇaṃ} & 2/ sự chết do hết phước {puññakkhayamaraṇaṃ}. Mỗi phần trong số ấy nên được hiểu như vậy. Và ở đấy, upakkamamaraṇaṃ là sự chết phi thời {akālamaraṇaṃ}; còn sarasamaraṇaṃ là sự chết đúng thời {kālamaraṇaṃ})

Dhp-ṭha.i.p110: Tattha yena bahuṃ puññakammaṃ kataṃ hoti, so devaloke uppajjitvā yāvatāyukaṃ ṭhatvā uparūpari nibbattati. Evaṃ āyukkhayena cavati nāma. [Ở đây, người nào tạo được nhiều thiện nghiệp / Với ai thiện nghiệp được tạo nhiều, người ấy sanh về cõi trời, sống hết tuổi thọ, sanh về cõi cao hơn, như vậy được gọi là “āyukkhayena - do hết tuổi thọ”]

Paramatthadīpanī.p250: Sarasavaseneva hi kammasāmatthiyassa khayo idha kammakkhayoti adhippeto. [Ở đây, sự chấm dứt khả năng cho quả của nghiệp nhờ sự chết tự nhiên (sarasamaraṇaṃ) thì đồng nghĩa với “kammakkhayo”]

Abhs-ṭī.p187: Satipi tattha tattha paricchinnāyusese gatikālādipaccayasāmaggiyañca taṃtaṃbhavasādhakassa kammuno pariniṭṭhitavipākattā maraṇaṃ kammakkhayamaraṇam**. [Khi tuổi thọ còn lại cạn kiệt, sự chết liên hệ đến điều kiện về cảnh giới, thời gian… {gatikālādipaccayasāmaggiyaṃ} do quả của nghiệp đã ngưng hoàn toàn, được gọi là “kammakkhayamaraṇam”.

TNPCII-Bài 03A.08

Đề: “Pemato jāyatī soko*; Pemato jāyatī* bhayaṃ*;*

Pemato vippamuttassa natthi soko; kuto bhayaṃ?” (Dhp.213)

Văn xuôi: Soko pemato jāyatī/jāyati. Bhayaṃ pemato jāyatī. Pemato vippamuttassa soko natthi kuto bhayaṃ (atthi)!

Dịch: Sự ưu sầu sinh ra từ ái luyến. Sự sợ hãi sinh ra từ ái luyến. Không có sự ưu sầu cho vị đã được thoát khỏi ái luyến, thì sợ hãi từ đâu mà còn chứ!

Chú giải:

Dhp-ṭhā.ii.213: ***Pemato***ti puttadhitādīsu kataṃ pemameva nissāya soko jāyatīti attho. (Pemato có nghĩa là sự sầu muôn khởi sanh do dựa vào chính ái luyến được tạo ra từ con trai con gái, … của mình.)

D-ṭhā.iii.p246: Pemanti gehassitapemaṃ. (Sự ái luyến thuộc thế tục {gehasitānīti kāmaguṇanissitāni. (liên hệ 5 dục cảnh được gọi là ‘gehasitāni’} gọi là “Pema”)

Psm-ṭhā.i.10: Sokoti socanaṃ. Ñātibhogarogasīladiṭṭhibyasanehi phuṭṭhassa cittasantāpo. (Sự buồn rầu được gọi là “soko”, tức sức nhiệt não/sự nóng bức trong tâm của người đã gặp phải sự mất mát về quyến thuộc, tài sản, sức khoẻ, giới hạnh, chánh kiến.)

Mahānid.44: Sokoti [Mahānid-ṭhā.44: Sokoti sokaniddese – byasatīti byasanaṃ, hitasukhaṃ khipati viddhaṃsetīti attho. Ñātīnaṃ byasanaṃ ñātibyasanaṃ, corarogabhayādīhi ñātikkhayo ñātivināsoti attho. (Trong phần giải thích về soka, tổn thất/mất mát được gọi “byasanaṃ”, vậy “soko” có nghĩa là mất mát/tổn thất sự lợi ích & an lạc. Sự mất mát đối với các quyến thuộc được gọi là “ñātibyasanaṃ”, có nghĩa là sự tổn hại quyến thuộc {ñātikkhayo ñātivināso} do trộm cướp, bệnh tật, sợ hãi…)] ñātibyasanena vā phuṭṭhassa [Phuṭṭhassāti ajjhotthaṭassa, abhibhūtassa samannāgatassāti attho. (“Phuṭṭhassa – đã gặp phải” tức bị phủ lên, bị áp chế, bị ngự trị)] bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena [Aññataraññatarenāti gahitesu vā yena kenaci aggahitesu vā mittāmaccabyasanādīsu yena kenaci. (“Aññataraññatarena – với bất kỳ gì khác” tức với bất kỳ người nào về việc mất mát bạn bè… mà đã được nêu ra hoặc chưa được nêu ra.)] byasanena samannāgatassa [Samannāgatassāti samanubandhassa aparimuccamānassa. (“Samannāgatassa – của kẻ có được” tức của kẻ bị trói buộc, của kẻ không thoát được)] aññataraññatarena dukkhadhammena [Aññataraññatarena dukkhadhammenāti yena kenaci sokadukkhassa uppattihetunā. (“Aññataraññatarena dukkhadhammena – với bất kỳ pháp khổ nào khác” tức với bất kỳ nhân nào làm khởi lên sự khổ sầu.)] phuṭṭhassa soko [Sokoti socanakavasena soko. Idaṃ tehi kāraṇehi uppajjanakasokassa sabhāvapaccattaṃ. (Sự sầu muộn do buồn rầu gọi là “soko”. Đây là bản chất riêng của sự sầu muộn khởi lên nhờ nguyên nhân ấy.)] socanā [Socanāti socanākāro. (Trạng thái ưu sầu gọi là “socanā”)] socitattaṃ [Socitattanti socitabhāvo. (trạng thái bị ưu sầu gọi là “socitattaṃ”) ] antosoko antoparisoko [Antosokoti abbhantarasoko. Dutiyapadaṃ upasaggena vaḍḍhitaṃ. So hi abbhantaraṃ sukkhāpento viya parisukkhāpento viya uppajjatīti “antosoko antoparisoko”ti vuccati. (Sự ưu sầu nội tại được gọi là “antosoko”. Từ thứ 2 {antoparisoko} được tăng cường nghĩa nhờ tiền tố. Thật vậy, nó được gọi là “antosoko antoparisoko” vì khởi lên như cái đang làm khô héo hoặc đang làm khô héo hoàn toàn bên trong.)] antodāho [Antodāhoti abbhantaradāho. Dutiyapadaṃ upasaggena vaḍḍhitaṃ. (Sự thiêu đốt bên trong được gọi là “antodāho”. Từ thứ 2 {antoparidāho}được tăng cường nghĩa nhờ tiền tố)] antoparidāho cetaso parijjhāyanā [Cetaso parijjhāyanāti cittassa jhānanākāro. Soko hi uppajjamāno aggi viya cittaṃ jhāpeti dahati, “cittaṃ me jhāmaṃ {=daḍḍhaṃ}, na me kiñci paṭibhātī”ti vadāpeti. (Trạng thái bị thiêu đốt của tâm được gọi là “cetaso parijjhāyanā”. Thật vậy, soko mà đang khởi lên, thiêu đốt, đốt cháy tâm ví như ngọn lửa {đang có}, và khiến than vãn rằng: “Tâm của ta đang bị đốt cháy, nên không có bất cứ thứ gì hiện rõ cho ta.”)] domanassaṃ [Dukkhito mano dummano {dummanoti dosena duṭṭhamano, virūpamano vā domanassābhibhūtatāya. – tâm ý bị ô nhiễm bởi sân hận hoặc tâm ý bị biến chất hoặc do trạng thái bị áp chế bởi sự khó chịu}, tassa bhāvo domanassaṃ. (trạng thái của tâm ý bị khổ sầu hoặc bị ô nhiễm được gọi là “domanassaṃ”)] sokasallaṃ [Anupaviṭṭhaṭṭhena sokova sallanti *sokasallaṃ.* (Mũi tên ví như sự sầu muộn theo nghĩa xâm nhập, nên được gọi là “sokasallaṃ”)]. (Sự sầu muộn {soko}, sự ưu sầu {socanā}, trạng thái bị ưu sầu {socitattaṃ}, nội sầu {antosoko}, nội quá sầu {antoparisoko}, nội nhiệt {antodāho}, nội quá nhiệt {antoparidāho}, sự thiêu đốt tâm {cetaso parijjhāyanā}, sự khó chịu {domanassaṃ}, mũi tên sầu muộn {sokasallaṃ} của kẻ đã đối mặt với sự mất mát về quyến thuộc, hoặc về tài sản hoặc về bệnh tật hoặc về giới hạnh hoặc về chánh kiến, của kẻ có sự mất mát{/bị trói buộc với sự mất mát} với bất kỳ gì khác {aññataraññatarena byasanena samannāgatassa}, và của kẻ đối mặt với bất kỳ pháp khổ nào khác {aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa} đều được gọi là “soko”)

D-ṭhā.iii.21: Bhayanti cittutrāsabhayaṃ. (sự sợ hãi hoảng hốt của tâm/sự kinh hồn bạc vía được gọi là “bhayaṃ”)

Psm-ṭhā.i.10: Yaṃ dukkhaṃ, taṃ bhayaṃ. (cái nào là khổ, cái ấy là sợ hãi)

Cūḷanid.240: Bhayanti jātibhayaṃ jarābhayaṃ byādhibhayaṃ maraṇabhayaṃ rājabhayaṃ corabhayaṃ… (sự sợ hãi về sanh, về già, về bệnh… được gọi là “bhayaṃ”)

Thera-ṭhā.p242: ***Vippamuttan***ti sabbaso vimuttaṃ, sabbakilesehi sabbabhavehi ca visaṃyuttaṃ. (được giải thoát cho tất cả, hoặc không kết hợp với tất cả phiền não cũng như tất cả các hữu {bhava})

Psm-ṭhā.ii.p266: Vippamuttanti vikkhambhanavimuttivasena kāmarāgato vippamuttaṃ. Atha vā pañcavimuttivasena [D-ṭhā.ii.13: Ettha vikkhambhanavimutti, tadaṅgavimutti, samucchedavimutti, paṭippassaddhivimutti, nissaraṇavimuttīti pañcavidhā vimutti. Tattha aṭṭha samāpattiyo sayaṃ vikkhambhitehi nīvaraṇādīhi vimuttattā vikkhambhanavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Aniccānupassanādikā sattānupassanā sayaṃ tassa tassa [D-ṭī.ii.13: tassa tassāti aniccānupassanādikassa.] paccanīkaṅgavasena [*paccanīkaṅgavasenāti pahātabbapaṭipakkhaaṅgavasena. – bằng yếu tố đối nghịch của pháp cần được đoạn trừ] pariccattāhi niccasaññādīhi vimuttattā *tadaṅgavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Cattāro ariyamaggā sayaṃ samucchinnehi kilesehi vimuttattā samucchedavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Cattāri sāmaññaphalāni maggānubhāvena kilesānaṃ paṭippassaddhante uppannattā [D-ṭī.ii.13: Paṭippassaddhante uppannattāti kilesānaṃ paṭippassambhanaṃ *paṭippassaddhaṃ, so eva anto pariyosānabhāvato, tasmiṃ sādhetabbe nibbattattā, taṃtaṃmaggavajjhakilesānaṃ paṭippassambhanavasena pavattattāti attho. (Trong câu “Paṭippassaddhante uppannattā”, sự an tịnh đối với các phiền não được gọi là “paṭippassaddhaṃ”, chính paṭippassaddhaṃ là “anto” do trạng thái là cuối cùng, tức có nghĩa do trạng thái khởi lên nơi cái cần được hoàn thiện {=magga}, và do sự xuất hiện {của phala} nhờ sự an tịnh đối với các phiền não mà đã được diệt trừ bởi chính tâm Đạo ấy.) / S-ṭhā.5.378: paṭippassaddhanteti paṭippassambhanosāpanena. (Do sự hoàn thiện của sự an tịnh nên được gọi là “paṭippassaddhante”)] paṭippassaddhivimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Nibbānaṃ sabbakilesehi nissaṭattā apagatattā dūre ṭhitattā [D-ṭī.ii.13: kilesehi nissaṭatā, apagamo ca nibbānassa tehi vivittattā evāti āha “dūre ṭhitattā”ti. (trạng thái tách ly và rời khỏi các phiền não của Nibbāna được gọi là “dūre ṭhitattā”) / S-ṭhā.5.378: sabbakilesehi nissaṭattā asaṃsaṭṭhattā vimuttattā ca nissaraṇavimutti nibbānaṃ. (trạng thái tách ly, trạng thái bất hợp, trạng thái giải thoát khỏi mọi phiền não chính là Nibbāna hay “nissaraṇavimutti”)] nissaraṇavimuttīti saṅkhyaṃ gacchati. (Ở đây, có 5 loại vimutti – sự giải thoát: 1/ vikkhambhanavimutti, 2/ tadaṅgavimutti, 3/ samucchedavimutti, 4/ paṭippassaddhivimutti, 5/ nissaraṇavimutti. Trong đó, 8 thiền chứng được gọi là “vikkhambhanavimutti” do trạng thái đã được thoát khỏi các chướng pháp mà đã bị dừng lại bởi chính chúng. Bảy sự tuỳ quán như Vô thường tuỳ quán… được gọi là “tadaṅgavimutti” do trạng thái đã được thoát khỏi các nhận thức sai lạc như thường tưởng… mà đã bị tẩy trừ bởi yếu tố đối nghịch của chính Vô thường tuỳ quán… ấy. Bốn tâm Đạo{ariyamaggā} được gọi là “samucchedavimutti” do đã được thoát khỏi các phiền não mà đã được nhổ tận bởi chính tâm Đạo ấy. Bốn tâm Quả {sāmaññaphalāni} được gọi là “paṭippassaddhivimutti” do trạng thái đã được khởi lên tại điểm cuối của sự an tịnh đối với các phiền não nhờ năng lực của tâm Đạo ấy. Nibbāna được gọi là “nissaraṇavimutti***” do trạng thái tách ly, trạng thái rời khỏi, trạng thái đứng xa khỏi mọi phiền não.)] kāmarāgato vippamuttaṃ. Atha vā pañcavimuttivasena tato tato paṭipakkhato vippamuttaṃ. (Được thoát khỏi dục ái nhờ sự giải thoát do dừng lại/tẩy trừ {vikkhambhanavimutti})

TNPCII-Bài 03A.09

Đề: Na hi verena verāni; Sammantī’dha kudācanaṃ; Averena ca sammanti; Esa dhammo sanantano. (Dhp.5)

Văn xuôi: Verānīdha hi verena kudācanaṃ na sammanti. (Tāni) ca averena sammanti. Esa dhammo sanantano (hoti)

Dịch: Thật vậy, không khi nào mà những sự hận thù/tội lỗi làm lắng dịu được với chính sự hận thù/tội lỗi; nhưng (chúng) làm lắng dịu được chỉ với sự vô hận/vô tội mà thôi. Đấy là pháp cổ xưa.

Chú giải:

Sārattha-ṭī.i.p240: Kudācananti kadācipi. (đôi khi, thỉnh thoảng được gọi là ‘kudācanaṃ’)

A-ṭhā.iii.p61: Verānīti akusalaverānipi puggalaverānipi. (các sự hận thù của tâm bất thiện cũng như của con người được gọi là ‘verāni – sự hận thù/tội lỗi’)

M-ṭī.i-a.p305: Veranti pāṇātipātādipāpadhammaṃ. (sự sát sanh… được gọi là ‘veraṃ - tội lỗi’)

Dhp-ṭhā.i.5: Na hi verenāti yathā hi kheḷasiṅghāṇikādīhi asucīhi makkhitaṃ ṭhānaṃ teheva asucīhi dhovantā suddhaṃ niggandhaṃ kātuṃ na sakkonti, atha kho taṃ ṭhānaṃ bhiyyosomattāya asuddhatarañceva duggandhatarañca hoti, evameva akkosantaṃ paccakkosanto paharantaṃ paṭipaharanto verena veraṃ vūpasametuṃ na sakkoti, atha kho bhiyyo bhiyyo verameva karoti. Iti verāni nāma verena kismiñci kāle na sammanti, atha kho vaḍḍhantiyeva. Averena ca sammantīti yathā pana tāni kheḷādīni asucīni vippasannena udakena dhoviyamānāni nassanti, taṃ ṭhānaṃ suddhaṃ hoti sugandhaṃ, evameva averena khantimettodakena yoniso manasikārena paccavekkhaṇena verāni vūpasammanti paṭippassambhanti abhāvaṃ gacchanti. Esa dhammo sanantanoti esa averena verūpasamanasaṅkhāto porāṇako dhammo, sabbesaṃ buddhapaccekabuddhakhīṇāsavānaṃ gatamaggoti. (“Na hi verena” tức giống như những người mà đang dọn sạch chỗ bị bôi trét bởi các vật dơ như nước dãi, nước mũi… bằng chính những vật dơ ấy thì không thể nào làm cho sạch sẽ & thơm tho được, chỗ ấy chỉ dơ & hôi hám hơn mà thôi. Cũng vậy, sự hận thù không thể nào làm lắng dịu/chấm dứt {vūpasametuṃ} được bằng {chính} sự hận thù lúc đang mắng lại người đang mắng mình hoặc lúc đánh lại người đang đánh mình; mà chỉ tạo ra sự hận thù thêm thôi. Như vây, trong mọi thời, cái được gọi là những hận thù không làm lắng đi được bằng chính sự hận thù ấy, mà chỉ làm tăng thêm sự hận thù mà thôi. “Averena ca sammanti” tức giống như các vật dơ như nước dãi… biến mất khi chúng được rửa sạch bằng nước sạch; chỗ ấy trở nên sạch sẽ & thơm tho. Cũng vậy, các sự hận thù chỉ làm lắng dịu, huỷ hoại và làm biến mất được bằng {chính} sự vô hận mà thôi khi chánh quán với loại nước kham nhẫn & từ ái. “Esa dhammo sanantano” tức đó {esa} là pháp cổ xưa mà có đặc tính làm lắng dịu sự thù hận bằng sự vô hận, đó cũng là con đường đã được đi đối với bậc Toàn Giác, bậc Độc Giác & chư Thinh Văn Giác.)

TNPCII-Bài 03A.10

Đề: Natthi jhānaṃ apaññassa, paññā natthi ajhāyato; Yamhi jhānañca paññā ca, sa ve nibbānasantike. (Dhp.372)

Văn xuôi: Jhānaṃ apaññassa natthi. Paññā ajhāyato natthi. Yamhi jhānañca paññāca (atthi/santi/honti), so ve nibbānasantike (ṭhito hoti).

Dịch: Không có thiền cho kẻ không có tuệ. Không có tuệ cho kẻ không có thiền.Nơi người nào có cả thiền và tuệ, người ấy chắc chắn đứng gần Nibbāna.

Chú giải:

Dhp-ṭhā.ii.372**:** Natthi jhānan****ti jhānuppādikāya vāyāmapaññāya apaññassa jhānaṃ1 nāma natthi. ***Paññā natthī***ti ajhāyantassa ‘‘samāhito bhikkhu yathābhūtaṃ jānāti passatī’’ti vuttalakkhaṇā paññā natthi. Yamhi jhānañca paññā cāti yamhi puggale idaṃ ubhayampi atthi, so nibbānassa santike ṭhitoyevāti attho. [“Natthi jhānaṃ - không có thiền” tức chắc chắn không có thiền cho kẻ vô trí với trí tuệ tinh cần {vāyāmapaññāya} làm nền tảng cho thiền ấy. “Paññā natthi – không có trí tuệ” tức chắc chắn không có trí tuệ với đặc tính mà đã được nói là “Vị tỳ-khưu mà có định biết và thấy như thật” cho kẻ không có thiền. “Yamhi jhānañca paññā ca – nơi ai có cả thiền & tuệ” có nghĩa nơi người nào mà có cả 2 pháp này (jhāna & paññā) thì chính người ấy đứng gần Nibbāna.]

Pārā-ṭhā.i.116: Paccanīkadhamme jhāpetīti jhānaṃ**, iminā yogino jhāyantītipi jhānaṃ, paccanīkadhamme ḍahanti gocaraṃ vā cintentīti attho. Sayaṃ vā taṃ jhāyati upanijjhāyatīti [upanijjhāyatīti upecca nijjhāyati oloketi – suy xét/quán chiếu sau khi an trú trên thiền mục thì được gọi là “upanijjhāyati”] jhānaṃ, teneva upanijjhāyanalakkhaṇanti vuccati. Tadetaṃ ārammaṇūpanijjhānaṃ, lakkhaṇūpanijjhānanti duvidhaṃ hoti. Tattha ārammaṇūpanijjhānanti saha upacārena aṭṭha samāpattiyo vuccanti. Kasmā? Kasiṇādiārammaṇūpanijjhāyanato. Lakkhaṇūpanijjhānanti vipassanāmaggaphalāni vuccanti. Kasmā? Lakkhaṇūpanijjhāyanato. Ettha hi vipassanā aniccalakkhaṇādīni upanijjhāyati, vipassanāya upanijjhāyanakiccaṃ pana maggena sijjhatīti maggo lakkhaṇūpanijjhānanti vuccati. Phalaṃ pana nirodhassa tathalakkhaṇaṃ upanijjhāyatīti lakkhaṇūpanijjhānanti vuccati. (Cái mà phá hủy các pháp đối nghịch được gọi là “jhānaṃ”; nhờ cái này mà các thiền giả tập trung được nên mới gọi là “jhānaṃ”, tức có nghĩa các thiền giả thiêu đốt các pháp đối nghịch hoặc suy tư về thiền mục {gocaraṃ}. Hoặc tự nó tập trung/thiền định và suy xét thấu đáo nên được gọi là “jhānaṃ”, nhờ vậy mà jhānaṃ được gọi là “cái có đặc tính suy xét thấu đáo {upanijjhāyanalakkhaṇaṃ}”. Jhānaṃ ấy gồm 2 loại: 1/ thiền suy xét thấu đáo về cảnh {ārammaṇūpanijjhānaṃ} & 2/ thiền suy xét thấu đáo về trạng thái {lakkhaṇūpanijjhānanti}. Trong đó, 8 thiền chứng cùng với cận định {upacārasamādhi} được gọi là “ārammaṇūpanijjhānaṃ”. Tại sao vậy? Vì do sự suy xét thấu đáo về đối tượng như kasiṇa… Còn minh sát trí-Đạo-Quả {vipassanā-magga-phala} được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ*”. Tại sao vậy? Vì do sự suy xét thấu đáo về trạng thái. Thật vậy, ở đây, vipassanā mà suy xét thấu đáo các trạng thái như vô thường… thì được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”, còn chức năng suy xét thấu đáo của vipassanā ấy mà được kiện toàn nhờ tâm Đạo {maggena}, chính Magga ấy cũng được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”. Còn tâm Quả {phalaṃ mà suy xét thấu đáo về trạng thái đúng/chân tướng của sự Diệt {nirodhassa=Nibbānassa} cũng được gọi là “lakkhaṇūpanijjhānaṃ”.) / *Sn-ṭhā.69: ***Jhānan***ti paccanīkajhāpanato ārammaṇalakkhaṇūpanijjhānato ca cittaviveko [Dhp-ṭhā.i.p345: Tattha ***kāyaviveko*ti kāyassa ekībhāvo. Cittavivekoti aṭṭha samāpattiyo. Upadhivivekoti nibbānaṃ. Tesu kāyaviveko gaṇasaṅgaṇikaṃ vinodeti, cittaviveko kilesasaṅgaṇikaṃ vinodeti, upadhiviveko saṅkhārasaṅgaṇikaṃ vinodeti. Kāyaviveko cittavivekassa paccayo hoti, cittaviveko upadhivivekassa paccayo hoti. (Trong đó, trạng thái 1 mình của thân được gọi là “kāyaviveko – thân viễn ly”. Tám thiền chứng được gọi là “cittaviveko – tâm viễn ly”. Nibbāna được gọi là “upadhiviveko – ái viễn ly”. Trong 3 loại ấy, kāyaviveko loại trừ được hội nhóm, cittaviveko loại trừ được nhóm phiền não, còn upadhiviveko loại trừ được nhóm pháp hữu vi. Kāyaviveko làm duyên cho cittaviveko khởi sanh, và cittaviveko làm duyên cho upadhiviveko khởi sanh.)] vuccati. Tattha aṭṭhasamāpattiyo nīvaraṇādipaccanīkajhāpanato ārammaṇūpanijjhānato ca jhānanti vuccati {=vuccanti}, vipassanāmaggaphalāni sattasaññādipaccanīkajhāpanato, lakkhaṇūpanijjhānatoyeva cettha phalāni. Idha pana ārammaṇūpanijjhānameva adhippetaṃ. (“Jhāna” được gọi là “cittaviveko” do sự phá hủy pháp đối nghịch và vì là loại thiền suy xét thấu đáo về cảnh. Ở đấy, 8 thiền chứng được gọi là “jhānaṃ” do sự phá huỷ pháp đối nghịch như các chướng pháp{nīvaraṇa} và vì là loại thiền suy xét thấu đáo về cảnh; các minh sát trí-Đạo-Quả cũng được gọi là “jhānaṃ” do sự phá huỷ pháp đối nghịch như nhận thức tà kiến về chúng sanh{sattasaññā}…; và các tâm Quả{phalāni} cũng được gọi là “jhānaṃ” do sự suy xét thấu đáo về trạng thái.)

TNPCII-Bài 03A.11

Đề: Sabbe saṅkhārā aniccā’ti, Yadā paññāya passati, Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā*.* (Dhp. 277)

Văn xuôi: Yadā so sabbe saṅkhārā aniccā’ti paññāya passati, atha (so) dukkhe nibbindati. Esa maggo visuddhiyā hoti.

Dịch: Khi nào vị ấy thấy bằng tuệ rằng ‘Tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường’; lúc đó, vị ấy nhàm chán trong sự khổ. (Vipassanā) ấy chính là con đường cho sự thanh tịnh (ñāṇadassanavisuddhi & accantavisuddhi). Vị ấy nhàm chán trong sự khổ khi thấy được bằng tuệ rằng “‘Tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường”. Đây là con đường của sự thanh tịnh.

Chú giải:

A. ni. 3. 137**:** Aniccā’ti hutvā abhāvatthena aniccā. (Sự vô thường có rồi mất nên được gọi là ‘aniccā**’).

Dhp-ṭhā.ii.277: Sabbe saṅkhārā**ti kāmabhavādīsu uppannā khandhā tattha tattheva nirujjhanato ***aniccā***ti yadā vipassanāpaññāya [D-abhinavatī.i-b.402: ***vipassanāpaññā***ti maggasaccassa, paramatthasaccassa ca anulomanato saccānulomikasaññitā(=maggasaccassa anulomikattā) vipassanāpaññā, lokiyamattato paññāva. (Minh sát tuệ được biết là thuận theo 4 đế do sự thuận hướng đến đạo đế{maggasaccassa} và chân đế{paramatthasaccassa})] passati, atha imasmim khandhapariharaṇadukkhe nibbindati, nibbindanto dukkhaparijānanādivasena saccāni paṭivijjhati. Esa maggo visuddhiyāti visuddhatthāya vodānatthāya esa maggoti attho. [“Sabbe saṅkhārā” tức khi nào người ấy thấy bằng minh sát tuệ rằng “Các uẩn mà đã khởi sanh trong 4 phạm trù gồm Dục {kāmabhava}, Sắc {rūpabhava}, Vô sắc {arūpabhava}, Siêu thế{lokuttara} đều là vô thường do sự biến hoại từ chỗ này đến chỗ kia”; lúc đó, người ấy nhàm chán trong sự khổ bao phủ các uẩn này. Vị đang nhàm chán thấu triệt được 4 đế nhờ sự hiểu thấu về khổ{dukkhaparijānana}… Trong câu “Esa maggo visuddhiyā”, ấy/đó{esa} có nghĩa là con đường vì mục đích tịnh hoá, vì mục đích thanh tịnh.]

Thera-ṭhā.ii.678: Tattha sabbe saṅkhārā**ti chaḷārammaṇasaṅgahā sabbe tebhūmakā pañcakkhandhā. Aniccā*ti “ādimajjhaantavantato, aniccantikato, tāvakālikato [Vbh-mūlaṭī.i.p37: Sadā abhāvepi ciraṭṭhānaṃ siyāti taṃnivāraṇatthaṃ “tāvakālikato”ti āha. (Vì để ngăn điều này “có sự trường tồn nơi cái vô thường” nên mới nói “tāvakālikato”)], tattha tattha bhijjanato na niccā”ti yadā vipassanāpaññāya passati. Atha nibbindati dukkheti atha imasmiṃ vaṭṭadukkhe nibbindati, nibbindanto dukkhaparijānanādividhinā saccāni paṭivijjhati. Esa maggo visuddhiyāti esa yathāvutto vipassanāvidhi ñāṇadassanavisuddhiyā [D-ṭhā.iii.359: ñāṇadassanavisuddhīti rathavinīte maggo kathito, idha vuṭṭhānagāminivipassanā. (“Ñāṇadassanavisuddhi” chính là tâm Đạo mà được nói đến trong kinh Trạm xe, ở đây Đạo ấy là minh sát dẫn vượt thoát luân hồi.) / Psm-ṭhā.i.p119: Ñāṇadassanavisuddhīti catuariyamaggapaññā. Sā hi samucchedato sakasakamaggavajjhakilesamalaṃ visodheti. (4 trí thánh Đạo được gọi là “ñāṇadassanavisuddhi”. Trí này chắc chắn tịnh hoá cấu uế mà đã được diệt trừ bởi từng Đạo một{sakasakamagga} nhờ sự diệt tận{samucchedato})], accantavisuddhiyā{=nibbānaṃ} ca maggo adhigamupāyo. [Trong đó, tất cả 5 uẩn thuộc tam giới{tebhūmakā} gồm chung trong 6 cảnh đều được gọi là “sabbe saṅkhārā”. “Aniccā” tức khi nào 1 người thấy bằng minh sát tuệ rằng “Các hành là vô thường{na niccā} vì chúng có điểm đầu-điểm giữa-điểm cuối{sanh-trụ-diệt}, vì chúng có sự kết thúc là vô thường{aniccantikato}, vì chúng có sự chớp nhoáng{tāvakālikato=taṅkhaṇikatāya}, và vì chúng có sự tan rã chỗ này chỗ kia”; khi đó, vị ấy nhàm chán trong khổ luân hồi này và thấu triệt được 4 đế bằng sự hiểu rõ về khổ đế… nhờ sự nhàm chán ấy, do vậy nên mới được gọi là “Atha nibbindati dukkhe”. Trong câu “Esa maggo visuddhiyā*”, thiền minh sát{vipassanāvidhi} mà được gọi là “esa” ám chỉ con đường hay phương cách cho trí kiến thanh tịnh{ ñāṇadassanavisuddhi=4 magga} và cho tuyệt đối thanh tịnh{accantavisuddhi=Nibbāna}]

Saddanīti-dhā.p19: Dukkhanti dukkhayatīti dukkhaṃ. Yassuppajjati, taṃ dukkhitaṃ karotīti attho. [Cái gây khổ đau được gọi là “dukkhaṃ”, tức có nghĩa người ấy bị khổ đau khi khổ xuất hiện.]

Psm-ṭhā.i.32-33: Anekāni hi dukkhāni. Seyyathidaṃ – dukkhadukkhaṃ, vipariṇāmadukkhaṃ, saṅkhāradukkhaṃ, paṭicchannadukkhaṃ, appaṭicchannadukkhaṃ, pariyāyadukkhaṃ, nippariyāyadukkhanti. Ettha kāyikacetasikā dukkhā vedanāsabhāvato ca nāmato ca dukkhattā dukkhadukkhanti vuccati. Sukhā vedanā vipariṇāmena dukkhuppattihetuto *vipariṇāmadukkhaṃ. Upekkhāvedanā ceva avasesā ca tebhūmakasaṅkhārā udayabbayapaṭipīḷitattā saṅkhāradukkhaṃ. Kaṇṇasūla/dantasūla/rāgaja-pariḷāha/dosaja-pariḷāhādi kāyikacetasiko ābādho pucchitvā jānitabbato upakkamassa ca apākaṭabhāvato paṭicchannadukkhaṃ**. Dvattiṃsakammakāraṇādisamuṭṭhāno ābādho apucchitvāva jānitabbato upakkamassa ca pākaṭabhāvato appaṭicchannadukkhaṃ**. Ṭhapetvā dukkhadukkhaṃ sesaṃ dukkhasaccavibhaṅge (vibha. 190 ādayo) āgataṃ jātiādi sabbampi tassa tassa dukkhassa vatthubhāvato pariyāyadukkhaṃ**. Dukkhadukkhaṃ pana nippariyāyadukkhanti vuccati. [Thật vậy, có nhiều loại khổ{dukkha} bao gồm: 1/khổ khổ{dukkhadukkhaṃ}, 2/khổ biến hoại{vipariṇāmadukkhaṃ}, 3/khổ hữu vi{saṅkhāradukkhaṃ}, 4/khổ bao phủ {paṭicchannadukkhaṃ}, 5/khổ hiện lộ {appaṭicchannadukkhaṃ}, 6/khổ nguyên nhân{pariyāyadukkhaṃ}, 7/ khổ phi nguyên nhân/khổ bản chất {nippariyāyadukkhaṃ}. Ở đây, sự khổ thuộc thân lẫn tâm được gọi là “dukkhadukkhaṃ” do là trạng thái khổ{dukkhattā} từ bản chất thuộc về cảm thọ{vedanāsabhāvato} và từ tên gọi{nāmato}. Do sự biến hoại, nên thọ lạc{sukhavedanā} được gọi là “vipariṇāmadukkhaṃ* vì là nguyên nhân phát sanh khổ{dukkhuppattihetuto}. Thọ xả{upekkhāvedanā} và các hành thuộc tam giới còn lại được gọi là “saṅkhāradukkhaṃ” do trạng thái áp bức bởi sự sanh-diệt (của chúng). Sự bệnh thuộc thân lẫn tâm như là sự đau tai, sự đau răng, sự nhiệt não sanh do tham, sự nhiệt não sanh do sân… được gọi là “paṭicchannadukkhaṃ” do được biết đến chỉ sau khi thăm hỏi và do trạng thái ẩn kín của phiền não đang phát tác. Sự bệnh mà phát sanh từ 32 hành vi tra tấn{kammakāraṇa: M.i.178} được gọi là “paṭicchannadukkhaṃ” do được biết đến khi không cần thăm hỏi và do trạng thái hiện rõ. Ngoại trừ dukkhadukkha, dukkha còn lại{sesaṃ} được xuất hiện trong Vbh.190 “Khổ đế phân tích”, tất cả chúng đều được gọi là “pariyāyadukkhaṃ” do bản chất là nền tảng cho từng loại khổ{sesaṃ} ấy. Còn dukkhadukkha được gọi là “nippariyāyadukkhaṃ”.

TNPCII-Bài 3B.03

Đề: This ignorant person is not able to attain nirvāna.

Dịch: Ayaṃ appassuto puggalo nibbānaṃ paṭiladdhuṃ na sakkoti / sakkuṇāti / sakkā hoti.

Chú giải:

Iti-ṭhā.70: Tathā duccaritacaraṇe dasseti appassutoti**, attano paresañca hitāvahena sutena viharitoti attho. → Tương tự, “appassuto-kẻ ít nghe/ kẻ ngu dốt” ám chỉ lý do lúc đang tạo ác nghiệp, nó có nghĩa là thiếu sự lắng nghe và thiếu sự đem lại ích cho chúng sanh khác.

M-ṭhā.i-a.83: Appam sutametesanti appassutā**, appanti cathokanti na gahetabbaṃ, natthīti gahetabbaṃ. “Appassutā” ti hi nissutā sutavirahitā vuccanti. → Đối với những ai mà ít nghe được gọi là “appassutā”; trong đó, “appaṃ” là ít ỏi, không có cái đáng được nhận. Thật vậy, ít nghe hoặc thiếu sự nghe được gọi là “appassutā”.

TNPCII-Bài 03B.06

Đề: The persons who have observed the precepts without any breach will be born in heaven and will obtain immense happiness. (Những người đã gìn giữ các điều giới mà không có bất cứ sự vi phạm/hư hoại nào sẽ (paṭisandhikāla-thời tái sanh) [/sẽ(pavattikāla-thời bình thường)] sanh lên cõi trời và sẽ được hạnh phúc vô biên.)

Dịch: Kiṃ/yaṃ bhedanaṃ vinā sikkhāpadāni rakkhitā purisā sagge nibbattitvā (saggaṃ gantvā) atimahantaṃ sukhaṃ labhissanti.

Chú giải:

Vbh-ṭhā.703: Sikkhāpadānīti sikkhitabbapadāni, sikkhākoṭṭhāsāti attho. Apica upari āgatā sabbepi kusalā dhammā sikkhitabbato sikkhā. Pañcasu pana sīlaṅgesu yaṃkiñci aṅgaṃ tāsaṃ sikkhānaṃ patiṭṭhānaṭṭhena padanti sikkhānaṃ padattā *sikkhāpadāni. [Những điều cần tu học được gọi là “sikkhāpadāni”, tức có nghĩa các phần của sự tu học {tisikkhā}. Mọi thiện pháp mà xuất hiện ở trên được gọi là “sikkhā” theo nghĩa cần được tu học. Còn bất kỳ phần nào trong Ngũ giới đều được gọi là “padaṃ” theo nghĩa nâng đỡ cho Tam học ấy; do trạng thái nâng đỡ cho tam học nên được gọi là “sikkhāpadāni***”]

Thera-ṭhā.27: ***Rakkhatī***ti apāyadukkhato rakkhati, saṃsāradukkhato ca vivaṭṭūpanissayabhūto{=puññaṃ} rakkhatiyeva. [Pháp {dhammo} bảo vệ người hành pháp {dhammacārinti taṃ dhammaṃ carantaṃ paṭipajjantaṃ} khỏi khổ đoạ xứ, khỏi khổ luân hồi và bảo vệ trạng thái hỗ trợ cho sự xuất luân hồi.]

Netti-ṭhā.91: Sagganti sugatiṃ. Sā hi rūpādīhi sobhanehi aggoti saggoti adhippetā. [cõi lành được gọi là “saggaṃ”. Thật vậy, cõi lành ấy đồng nghĩa với “saggo” vì là tối thắng bởi các vẻ đẹp của hình sắc…]

Psm.173: Sukhan**ti dve sukhāni[1] – kāyikañca***[2]*** sukhaṃ, cetasikañca***[3]*** sukhaṃ. Katamaṃ kāyikaṃ sukhaṃ? Yaṃ kāyikaṃ sātaṃ***[4]*** kāyikaṃ sukhaṃ***[5], kāyasamphassajaṃ[6]*** sātaṃ (=sātanti sātamadhuratā {sātaṃ=sabhāvavasena, madhuraṃ=upamāvasena.}/sukhaṃ) sukhaṃ vedayitaṃ[7]**, kāyasamphassajā sātā sukhā vedanā – idaṃ kāyikaṃ sukhaṃ. Katamaṃ cetasikaṃ sukhaṃ? Yaṃ cetasikaṃ sātaṃ cetasikaṃ sukhaṃ, cetosamphassajaṃ sātaṃ sukhaṃ vedayitaṃ, cetosamphassajā sātā sukhā vedanā – idaṃ cetasikaṃ sukhaṃ. [“Sukha – lạc” gồm 2 loại: 1/ lạc thuộc thân (kāyikasukhaṃ) & 2/ lạc thuộc tâm (cetasikasukhaṃ). Thế nào là kāyikasukhaṃ? Cái nào thỏa thích thuộc thân dễ chịu thuộc thân, đây là lạc thuộc thân (kāyikasukhaṃ); cái nào mà được cảm nghiệm thỏa thích và dễ chịu phát sinh trong thân xúc, đây là lạc thuộc thân (kāyikasukhaṃ); vedanā nào mà được cảm nghiệm thỏa thích và dễ chịu phát sinh trong thân xúc, đây là lạc thuộc thân (kāyikasukhaṃ). Thế nào là cetasikasukhaṃ? Cái nào thỏa thích thuộc tâm dễ chịu thuộc tâm, đây là lạc thuộc tâm (cetasikasukhaṃ); cái nào mà được cảm nghiệm thỏa thích và dễ chịu phát sinh trong ý xúc, đây là lạc thuộc tâm (cetasikasukhaṃ); vedanā nào mà được cảm nghiệm thỏa thích và dễ chịu phát sinh trong ý xúc, đây là lạc thuộc tâm (cetasikasukhaṃ).]

[1] Psm-ṭhā.173: Dve sukhānīti samathavipassanābhūmidassanatthaṃ vuttaṃ. Kāyikañhi sukhaṃ vipassanāya bhūmi, cetasikaṃ sukhaṃ samathassa ca vipassanāya ca bhūmi. (“Dve sukhāni” tức nói đến việc giải thích 2 phạm trù sukha từ thiền Định (samatha) & thiền Quán (vipassanā). Thật vậy, lạc thuộc thân (kāyikasukhaṃ) là phạm trù của thiền vipassanā, còn lạc thuộc tâm (cetasikasukhaṃ) là phạm trù của thiền samatha & vipassanā.

[2] Kāyikanti pasādakāyaṃ vinā anuppattito (=na uppajjanato) kāye niyuttanti kāyikaṃ. (“Kāyikaṃ - thuộc thân” tức cái gắn liền trong thân vì không khởi lên được nếu không có tế bào thân {pasādakāyaṃ})

[3] Cetasikanti avippayogavasena cetasi niyuttanti cetasikaṃ. Tattha kāyikapadena cetasikaṃ sukhaṃ paṭikkhipati, sukhapadena kāyikaṃ dukkhaṃ. Tathā cetasikapadena kāyikaṃ sukhaṃ paṭikkhipati, sukhapadena cetasikaṃ dukkhaṃ. (“Cetasikaṃ - thuộc tâm” tức cái gắn liền trong tâm ý theo nghĩa bất ly. Trong đó (=kāyika-sukhaṃ), dùng từ “kāyika” để bác bỏ lạc thuộc tâm {cetasikasukhaṃ}, dùng từ “sukha” để bác bỏ khổ thuộc thân {kāyikadukhaṃ}. Tương tự, trong cetasika-sukhaṃ, dùng từ “cetasika” để bác bỏ lạc thuộc thân{kāyikasukhaṃ}, dùng từ “sukha” để bác bỏ khổ thuộc tâm{cetasikadukhaṃ})

[4] **Sātanti madhuraṃ sumadhuraṃ. (Ngọt hay rất ngọt được gọi là “sātaṃ*”) / *Sārattha-ṭī.i.361: sampayuttadhamme vā attani sādayatīti sātaṃ (Cái khiến tự mình đắm chìm nơi các pháp tương ưng được gọi là “sātaṃ” / Người mà tự vui thích nơi các pháp tương ưng được gọi là “sātaṃ”)

[5] ***Sukhan***ti sukhameva, na dukkhaṃ. (Chính là sukhaṃ, chứ không phải là dukkhaṃ)

[6] Kāyasamphassajanti kāyasamphasse jātaṃ. (cái được sanh ra trong sự xúc chạm của thân được gọi là “kāyasamphassajaṃ”)

[7] Sātaṃ sukhaṃ vedayitanti sātaṃ vedayitaṃ, na asātaṃ vedayitaṃ. Sukhaṃ vedayitaṃ, na dukkhaṃ vedayitaṃ. Parato tīṇi padāni itthiliṅgavasena vuttāni. Sātā vedanā, na asātā. Sukhā vedanā, na dukkhāti ayameva panettha attho. (“Sātaṃ sukhaṃ vedayitaṃ” tức được cảm nghiệm hài lòng/ngọt ngào {sātaṃ}, chứ không phải được cảm nghiệm bất mãn/đắng cay {asātaṃ}. Hoặc được cảm nghiệm dễ chịu{sukhaṃ}, chứ không phải được cảm nghiệm khó chịu{dukkhaṃ}. Ba từ sau {kāyasamphassajā, sātā, sukhā} được dùng theo nghĩa nữ tính, tức có nghĩa “Đây là thọ ngọt ngào {sātā vedanā}, chứ không phải là thọ đắng cay {asātā}. Đây là thọ lạc {sukhā}, không phải là thọ khổ {dukkhā}”.)

TNPCII-Bài 04A.01

Đề: Tassa attano ca tāsañca devatānaṃ saddhañca sīlañca sutañca, cāgañca paññañca anussarato cittaṃ pasīdati, pāmojjaṃ uppajjati, ye cittassa upakkilesā (honti) te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa jātarūpassa upakkamena pariyodapanā hoti. (A.3.71)

Dịch**:** Đối với người mà đang tùy niệm về tín, giới, văn, thí, tuệ của chính mình và của chư thiên ấy, tâm liền tịnh tín; (do tâm tịnh tín nên) sự hân hoan khởi sinh; này Visākhā, các cấu uế nào (đang khởi) cho tâm, chúng đang được đoạn trừ; cũng giống như có sự tinh luyện đúng cách đối với vàng mà có tạp chất vậy.

Chú giải:

M-ṭhā.i-a.P129: Pasīdatīti tasmiṃ ārammaṇe pasīdati, bhummavacanameva vā etaṃ. [Tịnh tín vào đối tượng ấy được gọi là “pasīdati”, hoặc đó là vị trí cách.]

D***-ṭhā.ii.138: Saddhāti saddhāsampannā. Tattha 1/āgamanīyasaddhā, 2/ adhigamasaddhā, 3/ pasādasaddhā, 4/ okappanasaddhāti catubbidhā saddhā. Tattha āgamanīyasaddhā sabbaññubodhisattānaṃ hoti. Adhigamasaddhā ariyapuggalānaṃ. Buddho dhammo saṅghoti vutte pana pasādo *pasādasaddhā. Okappetvā pakappetvā pana saddahanaṃ *okappanasaddhā. [“Saddhā” tức những người đã thành tựu đức tin. Trong đó, saddhā gồm có 4 loại: 1/ āgamanīyasaddhā (saddhā dẫn đến chứng đạt Sabbaññubodhi),* 2/ adhigamasaddhā (saddhā chứng đạt 4 đế), 3/ pasādasaddhā (saddhā tịnh tín), 4/ okappanasaddhā (saddhā tin tưởng). Trong đó, āgamanīyasaddhāsaddhā của chư vị bồ-tát Toàn Tri. Adhigamasaddhāsaddhā của chư vị Thánh nhân. Còn sự tịnh tín (khởi sanh) khi được đề cập về Phật-Pháp-Tăng thì được gọi là “pasādasaddhā”. Còn sự tin tưởng sau khi hài lòng và xác quyết được gọi là “okappanasaddhā”.] / D-ṭhā.iii.317, M-ṭhā.ii.344, A-ṭhā.iii.p26: Saddhā panesā 1/ āgamanasaddhā, 2/ adhigamanasaddhā, 3/ okappanasaddhā, 4/ pasādasaddhāti catubbidhā. Tattha sabbaññubodhisattānaṃ saddhā abhinīhārato āgatattā āgamanasaddhā nāma. Ariyasāvakānaṃ paṭivedhena adhigatattā adhigamanasaddhā nāma. Buddho dhammo saṅghoti vutte acalabhāvena okappanaṃ okappanasaddhā nāma. Pasāduppatti pasādasaddhā nāma. [Saddhā gồm có 4 loại: 1/āgamanasaddhā (saddhā của sự chứng đạt Sabbaññubodhi),* 2/adhigamasaddhā (saddhā của chứng đạt 4 đế), 3/okappanasaddhā (saddhā tin tưởng), 4/pasādasaddhā (saddhā tịnh tín). Trong đó, saddhā của chư vị bồ-tát Toàn Tri chính là sự chứng đạt từ ý nguyện nên được gọi là “āgamanasaddhā”. Sự chứng đạt của chư vị Thinh văn nhờ sự thấu triệt thì được gọi là “adhigamanasaddhā”. Sự tin tưởng (okappanaṃ) (khởi sanh) nhờ trạng thái bất động khi được đề cập về Phật-Pháp-Tăng thì được gọi là “okappanasaddhā”. Sự khởi lên tịnh tín được gọi là “pasādasaddhā”] / *U-ṭhā.p93: Saddhāti saddhāya, kammaphalasaddhāya ratanattayasaddhāya ca. [“với đức tin về nghiệp quả và với đức tin về Tam bảo được gọi là “saddhā”.] / A-ṭhā.ii.p183: Saddhoti okappanasaddhāya ceva paccakkhasaddhāya ca samannāgato. Tattha dānasīlādīnaṃ phalaṃ saddahitvā dānādipuññakaraṇe saddhā okappanasaddhā nāma. Maggena āgatasaddhā paccakkhasaddhā nāma. [Vị mà thành tựu với đức tin tin tưởng (okappanasaddhāya) & đức tin hiện lộ (paccakkhasaddhāya) thì được gọi là “saddho”. Trong đó, đức tin lúc tác tạo thiện pháp như bố thí… sau khi hiểu rõ về quả lành của sự bố thí… ấy thì được gọi là “okappanasaddhā”. Đức tin mà kết hợp với thánh Đạo thì được gọi là “paccakkhasaddhā***”.]

*Thera-ṭhā.i.70: Sīlanti sīlanaṭṭhena sīlaṃ, patiṭṭhānaṭṭhena samādhānaṭṭhena cāti attho. [Được gọi là “sīlaṃ” theo nghĩa thực hành (sīlanaṭṭhena), tức theo nghĩa hỗ trợ (patiṭṭhānaṭṭhena= sabbasampattiadhiṭṭhānaṭṭhena-theo nghĩa hướng đến mọi thành tựu) & theo nghĩa thiết lập (samādhānaṭṭhena) ] / *Psm.39: Kiṃ sīlanti cetanā sīlaṃ, cetasikaṃ sīlaṃ, saṃvaro sīlaṃ, avītikkamo sīlaṃ[1]. [Gì là sīla? Chủ ý(cetanā) là sīlaṃ, tâm sở(cetasika) là sīlaṃ, sự phòng hộ(saṃvaro) là sīlaṃ, sự bất phạm(avītikkamo) là sīlaṃ.] / *Ud-ṭhā.43: Sīlanti pubbabhāgasīlena saddhiṃ maggasīlaṃ phalasīlañca. [Sīla trong Đạo & Quả cùng với sīla ở giai đoạn đầu tu tập được gọi là “sīlaṃ”.]