PME-Bài 18A.09
Đề: Mayam piṇḍapātaṃ bhuñjāma neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya*.*
Dịch: Chúng ta dùng thức ăn khất thực không để/nhằm mục đích cho sự vui đùa (davāya), không để/nhằm mục đích cho sự cao ngạo/tự hào (madāya), không để/nhằm mục đích cho sự làm đẹp (maṇḍanāya), không để/nhằm mục đích cho sự trang điểm (vibhūsanāya).
Chú giải:
Mahānid-ṭhā.89: Tattha neva davāyāti davatthāya na āhāreti. Tattha naṭalaṅghakādayo davatthāya āhārenti nāma. Yañhi bhojanaṃ bhuttassa naccagītakabbasilokasaṅkhāto davo atirekatarena paṭibhāti, taṃ bhojanaṃ adhammena visamena pariyesitvā te āhārenti. Ayaṃ pana bhikkhu na evamāhāreti. [Neva davāya tức trong đó, vị ấy không ăn (thức ăn khất thực) nhằm mục đích vui đùa. Ở đấy, các diễn viên, những người nhào lộn… thì ăn nhằm mục đích vui đùa. Thật vậy, đối với kẻ đã ăn thức ăn nào mà khiến sự vui đùa như múa, hát, thơ ca, ngâm vịnh xuất hiện rất nhiều, chúng ăn thức ăn ấy sau khi tìm kiếm 1 cách sái quấy, trái đạo. Nhưng vị tỳ-khưu này không có ăn thức ăn như vậy.]
Na madāyāti mānamada-purisamadānaṃ [Sārattha-ṭī.ii.p16: Mānamadapurisamadādayoti ettha jātiādiṃ nissāya seyyassa “seyyohamasmī”tiādinā uppajjanakamānoyeva madajananaṭṭhena madoti *mānamado. Purisamado vuccati purisamāno, “ahaṃ puriso”ti uppajjanakamāno. “Asaddhammasevanasamatthataṃ nissāya pavatto māno, rāgo eva vā purisamado”ti keci. (Trong cụm từ “Mānamada-purisamadādayo”, ở đây, chính sự kiêu ngạo khởi lên rằng “Ta là tuyệt vời nhất” do dựa vào sanh chủng… cũng là sự cao ngạo (mado) theo nghĩa phát khởi sự kiêu ngạo thì được gọi là “mānamado”. Sự kiêu ngạo về nam nhân (purisamāno) cũng được gọi là “purisamado***”, tức sự kiêu ngạo đang khởi lên rằng “Ta là nam nhân”. Một số vị giải thích rằng “Sự kiêu ngạo (māno) mà khởi lên do dựa vào việc nghe về phi pháp, hoặc chính tham ái (rāgo) cũng được gọi là “purisamado”)] vaḍḍhanatthāya na āhāreti. Tattha rājarājamahāmattā madatthāya āhārenti nāma. Te hi attano mānamadapurisamadānaṃ vaḍḍhanatthāya piṇḍarasabhojanādīni paṇītabhojanāni bhuñjanti. Ayaṃ pana bhikkhu evaṃ nāhāreti. [Na madāya tức vị ấy không ăn (thức ăn) nhằm tăng trưởng các sự kiêu mạn, sự cao ngạo, sự cao ngạo về nam nhân. Trong đó, vua và các đại thần của vua chắc chắn ăn vì mục đích cao ngạo. Thật vậy, họ ăn các ngự thực, thượng thực vì mục đích tăng trưởng sự kiêu ngạo, sự cao ngạo, sự cao ngạo là nam nhân của chính mình. Nhưng vị tỳ-khưu này không có ăn như vậy.]
Na maṇḍanāyāti sarīramaṇḍanatthāya na āhāreti. Tattha rūpūpajīviniyo mātugāmā antepurikādayo ca sappiphāṇitādīni pivanti, siniddhamudumaddavabhojanaṃ āhārenti. Evaṃ no aṅgalaṭṭhi susaṇṭhitā bhavissati, sarīre chavivaṇṇo pasanno bhavissatīti. Ayaṃ pana bhikkhu evaṃ na āhāreti. [Na maṇḍanāya tức vị ấy không ăn vì mục đích làm đẹp thân thể. Trong đó, các nữ nhân mà sống dựa vào sắc đẹp và các cung tần mỹ nữ uống bơ lỏng, mật mía… và ăn thức ăn mềm mại, tơi xốp, dễ tiêu vì nghĩa rằng: “Thân thể (laṭṭhisadisattā sarīrameva) của chúng ta sẽ có sắc diện tốt, màu da trên thân của chúng ta sẽ sáng chói.” Còn vì tỳ-khưu không có ăn như vậy. ]
Na vibhūsanāyāti sarīre maṃsavibhūsanatthāya (Vibhūsaṭṭhānāti maṃsavibhūsā chavivibhūsāti dve vibhūsā. Tattha ajjhoharaṇīyāhāro maṃsavibhūsā nāma, mālāgandhādīni chavivibhūsā nāma. – Có 2 sự trang điểm: trang điểm phần thịt {maṃsavibhūsā} & trang điểm phần da {chavivibhūsā}. Trong đó, thức ăn mà nên ăn được gọi là “trang điểm phần thịt”, còn vòng hoa-hương thơm… được gọi là “trang điểm phần da”.) na āhāreti. Tattha nibbuddhamallamuṭṭhikamallaceṭakādayo susiniddhehi macchamaṃsādīhi sarīraṃ pīṇenti ‘‘evaṃ no maṃsaṃ ussadaṃ bhavissati pahārasahanatthāyā’’ti. Ayaṃ pana bhikkhu evaṃ sarīre maṃsavibhūsanatthāya na āhāreti. [Na vibhūsanāya tức vị ấy không ăn vì mục đích trang điểm phần thịt (maṃsavibhūsana). Trong đó, những kẻ đô vật, những kẻ đấu quyền, các nô lệ… bồi bổ thân thể bằng các loại thịt cá mềm mại vì nghĩ rằng “Thịt/cơ bắp của chúng ta sẽ đầy đặn như vậy nhằm mục đích chống chịu được lúc chiến đấu”. Còn vị tỳ-khưu này không có ăn như vậy vì mục đích làm đầy thịt/cơ bắp trên thân.]