TNPCII-Bài 01A.15
Đề: Mahā-Mahindatthero aññehi catūhi pabbajitehi saddhiṃ Laṅkādīpaṃ āgantvā jineritaṃ saddhammaṃ Laṅkikānaṃ desesi.
Dịch: Sau khi đến đảo Laṅka cùng với bốn vị tỳ khưu khác, ngài đại trưởng lão Mahinda đã thuyết giảng Chánh pháp mà đã được tuyên thuyết bởi Đức Thế Tôn cho người dân Laṅka.
Chú giải:
A.10.147: Saddhammañca vo, bhikkhave, dhammaṃ desessāmi asaddhammañca. Taṃ suṇātha…pe… katamo ca, bhikkhave, asaddhammo? Micchādiṭṭhi…pe… micchāvimutti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaddhammo. Katamo ca, bhikkhave, saddhammo? Sammādiṭṭhi…pe… sammāvimutti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, saddhammo”ti. [Này chư tỳ-khưu, Ta sẽ thuyết chánh pháp{saddhammo} và tà pháp{asaddhammo} cho các ông. Hãy lắng nghe điều ấy… Này chư tỳ-khưu, thế nào là asaddhammo? Tà kiến… tà giải thoát, này chư tỳ-khưu, đây được gọi là asaddhammo. Này chư tỳ-khưu, thế nào là saddhammo? Chánh kiến… chánh giải thoát, này chư tỳ-khưu, đây được gọi là saddhammo.]
Pari-ṭhā.331: Saddhammoti buddhavacanaṃ adhippetaṃ. [saddhammo đồng nghĩa với Phật ngôn.]
S-ṭhā.1.31: Saddhammanti pañcasīladasasīlacatusatipaṭṭhānādibhedaṃ saddhammaṃ. [Saddhammaṃ mà được phân thành 5 giới, 10 giới, 4 chỗ trú niệm… đều được gọi là “saddhammaṃ”]
Net-thā-P.10: Sutamayañāṇagocaro ca yo “pariyatti***saddhammo”ti vuccati. Cintāmayañāṇagocaro ca yo ākāraparivitakkadiṭṭhinijjhānakkhantīhi gahetabbākāro vimuttāyatanaviseso “paṭipattisaddhammo”ti vuccati. Vipassanāñāṇādisahagato bhāvanāmayañāṇagocaro ca yo “paṭivedhasaddhammo***“ti vuccati. [Đối tượng cho Trí do nghe{sutamayañāṇa} thì được gọi là “pariyattisaddhammo-học chánh pháp”. Và đối tượng cho Trí do suy tư{cintāmayañāṇa} là pháp nên được thực hành{gahetabbākāro} nhờ trạng thái{ākāra}, nhờ suy xét{parivitakka}, nhờ chánh kiến{diṭṭhi}, nhờ hiểu rõ{nijhāna}, nhờ kham nhẫn{khanti}, và thuộc phạm trù giải thoát{vimuttāyatanaviseso}, nên được gọi là “paṭipattisaddhammo-hành chánh pháp”. Và đối tượng cho Trí do tu tập{bhāvanāmayañāṇa} kết hợp cùng minh sát trí… được gọi là “paṭivedhasaddhammo-đạt chánh pháp”.
Net-ṭī.7: Cintāmayañāṇeyeva hi patiṭṭhitā mahābodhisattā carimabhave vipassanaṃ ārabhanti, itare sutacintāmayañāṇesūti. [Thật vậy, chư bồ-tát Toàn giác mà đã an trú chính nhờ vào Trí do suy tư{cintāmayañāṇe} tiến hành minh sát vào kiếp chót, còn những chúng sanh khác tiến hành minh sát vào kiếp chót khi đã an trú vào Trí do nghe{sutamayañāṇa} và Trí do suy tư{cintāmayañāṇa}.]
Pārā-ṭhā.i.39**:** Tividho saddhammo – pariyattisaddhammo, paṭipattisaddhammo, adhigamasaddhammoti. Tattha piṭakattayasaṅgahitaṃ sabbampi buddhavacanaṃ “pariyattisaddhammo” nāma. Terasa dhutaguṇā, cuddasa khandhakavattāni, dveasīti mahāvattāni, sīlasamādhivipassanāti ayaṃ “paṭipattisaddhammo” nāma. Cattāro ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni nibbānañcāti ayaṃ “adhigamasaddhammo” nāma. [Có 3 loại chánh pháp{saddhammo}: 1/học chánh pháp{pariyatti}, 2/hành chánh pháp{paṭipatti}, 3/đạt chánh pháp{adhigama}. Trong đó, toàn bộ Phật ngôn trong Tam tạng được gọi là “pariyattisaddhammo”. 13 yếu tố thiêu đốt{dhutaguṇā}, 14 phận sự lớn{mahāvattāni} trong Khandhaka, 82 phận sự nhỏ{khuddakavattāni}, giới-định-minh sát đều được gọi là “paṭipattisaddhammo”. 4 Đạo, 4 Quả & Nibbāna đều được gọi là “adhigamasaddhammo”.]
Udā-thā-P.204: Gocaro pana upanissayagocaro ārakkhagocaro upanibandhagocaroti tividho. Tattha yo dasakathāvatthuguṇasamannāgato vuttalakkhaṇo kalyāṇamitto, yaṃ nissāya asutaṃ suṇāti, sutaṃ pariyodāpeti, kaṅkhaṃ vitarati, diṭṭhiṃ ujuṃ karoti, cittaṃ pasādeti, yañca anusikkhanto saddhāya vaḍḍhati, sīlena, sutena, cāgena, paññāya vaḍḍhati, ayaṃ vuccati upanissayagocaro**. Yo bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno okkhittacakkhu yugamattadassāvī cakkhundriyasaṃvutova gacchati, na hatthiṃ olokento, na assaṃ, na rathaṃ, na pattiṃ, na itthiṃ, na purisaṃ olokento, na uddhaṃ olokento, na adho olokento, na disāvidisaṃ pekkhamāno gacchati, ayaṃ ārakkhagocaro**. Upanibandhagocaro pana cattāro satipaṭṭhānā, yattha bhikkhu attano cittaṃ upanibandhati. [Còn gocaro-đối tượng có 3 loại gồm: 1/đối tượng nương nhờ{upanissayagocaro}, 2/đối tượng phòng hộ{ārakkhagocaro}, 3/đối tượng khắng khít{upanibandhagocaro}. Trong đó, người nào lắng nghe điều chưa từng được nghe do dựa vào bậc thiện hữu được nói đến là người có phẩm chất thuộc 10 đề tài, làm sáng tỏ điều đã được nghe, loại trừ nghi hoặc, củng cố chánh kiến, vui thích trong tâm, tăng trưởng với đức tin, với giới, với điều đã nghe, với xả thí, với tuệ lúc đang tu học điều ấy, đây được gọi là “upanissayagocaro”. Lúc đi vào làng{ antaragharaṃ=gocaragāmaṃ} hoặc đi trên đường, vị tỳ-khưu nào đi khất thực chính người ấy là người có mắt đã nhìn xuống{okkhittacakkhu}, là người nhìn phía trước khoảng 1 cán cày{yugamattadassāvī}, và là người phòng hộ nhãn căn; hoặc đi khất thực mà không để ý đến voi, ngựa, xe, người đi bộ, nữ, nam, phía trên, phía dưới hoặc không xao lãng các hướng; đây được gọi là “ārakkhagocaro”. Còn 4 chỗ trú niệm là nơi mà vị tỳ-khưu khắng khít tâm của mình vào đấy, đây được gọi là “upanibandhagocaro”.]