TNPCII-Bài 03A.08

Đề: “Pemato jāyatī soko*; Pemato jāyatī* bhayaṃ*;*

Pemato vippamuttassa natthi soko; kuto bhayaṃ?” (Dhp.213)

Văn xuôi: Soko pemato jāyatī/jāyati. Bhayaṃ pemato jāyatī. Pemato vippamuttassa soko natthi kuto bhayaṃ (atthi)!

Dịch: Sự ưu sầu sinh ra từ ái luyến. Sự sợ hãi sinh ra từ ái luyến. Không có sự ưu sầu cho vị đã được thoát khỏi ái luyến, thì sợ hãi từ đâu mà còn chứ!

Chú giải:

Dhp-ṭhā.ii.213: ***Pemato***ti puttadhitādīsu kataṃ pemameva nissāya soko jāyatīti attho. (Pemato có nghĩa là sự sầu muôn khởi sanh do dựa vào chính ái luyến được tạo ra từ con trai con gái, … của mình.)

D-ṭhā.iii.p246: Pemanti gehassitapemaṃ. (Sự ái luyến thuộc thế tục {gehasitānīti kāmaguṇanissitāni. (liên hệ 5 dục cảnh được gọi là ‘gehasitāni’} gọi là “Pema”)

Psm-ṭhā.i.10: Sokoti socanaṃ. Ñātibhogarogasīladiṭṭhibyasanehi phuṭṭhassa cittasantāpo. (Sự buồn rầu được gọi là “soko”, tức sức nhiệt não/sự nóng bức trong tâm của người đã gặp phải sự mất mát về quyến thuộc, tài sản, sức khoẻ, giới hạnh, chánh kiến.)

Mahānid.44: Sokoti [Mahānid-ṭhā.44: Sokoti sokaniddese – byasatīti byasanaṃ, hitasukhaṃ khipati viddhaṃsetīti attho. Ñātīnaṃ byasanaṃ ñātibyasanaṃ, corarogabhayādīhi ñātikkhayo ñātivināsoti attho. (Trong phần giải thích về soka, tổn thất/mất mát được gọi “byasanaṃ”, vậy “soko” có nghĩa là mất mát/tổn thất sự lợi ích & an lạc. Sự mất mát đối với các quyến thuộc được gọi là “ñātibyasanaṃ”, có nghĩa là sự tổn hại quyến thuộc {ñātikkhayo ñātivināso} do trộm cướp, bệnh tật, sợ hãi…)] ñātibyasanena vā phuṭṭhassa [Phuṭṭhassāti ajjhotthaṭassa, abhibhūtassa samannāgatassāti attho. (“Phuṭṭhassa – đã gặp phải” tức bị phủ lên, bị áp chế, bị ngự trị)] bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena [Aññataraññatarenāti gahitesu vā yena kenaci aggahitesu vā mittāmaccabyasanādīsu yena kenaci. (“Aññataraññatarena – với bất kỳ gì khác” tức với bất kỳ người nào về việc mất mát bạn bè… mà đã được nêu ra hoặc chưa được nêu ra.)] byasanena samannāgatassa [Samannāgatassāti samanubandhassa aparimuccamānassa. (“Samannāgatassa – của kẻ có được” tức của kẻ bị trói buộc, của kẻ không thoát được)] aññataraññatarena dukkhadhammena [Aññataraññatarena dukkhadhammenāti yena kenaci sokadukkhassa uppattihetunā. (“Aññataraññatarena dukkhadhammena – với bất kỳ pháp khổ nào khác” tức với bất kỳ nhân nào làm khởi lên sự khổ sầu.)] phuṭṭhassa soko [Sokoti socanakavasena soko. Idaṃ tehi kāraṇehi uppajjanakasokassa sabhāvapaccattaṃ. (Sự sầu muộn do buồn rầu gọi là “soko”. Đây là bản chất riêng của sự sầu muộn khởi lên nhờ nguyên nhân ấy.)] socanā [Socanāti socanākāro. (Trạng thái ưu sầu gọi là “socanā”)] socitattaṃ [Socitattanti socitabhāvo. (trạng thái bị ưu sầu gọi là “socitattaṃ”) ] antosoko antoparisoko [Antosokoti abbhantarasoko. Dutiyapadaṃ upasaggena vaḍḍhitaṃ. So hi abbhantaraṃ sukkhāpento viya parisukkhāpento viya uppajjatīti “antosoko antoparisoko”ti vuccati. (Sự ưu sầu nội tại được gọi là “antosoko”. Từ thứ 2 {antoparisoko} được tăng cường nghĩa nhờ tiền tố. Thật vậy, nó được gọi là “antosoko antoparisoko” vì khởi lên như cái đang làm khô héo hoặc đang làm khô héo hoàn toàn bên trong.)] antodāho [Antodāhoti abbhantaradāho. Dutiyapadaṃ upasaggena vaḍḍhitaṃ. (Sự thiêu đốt bên trong được gọi là “antodāho”. Từ thứ 2 {antoparidāho}được tăng cường nghĩa nhờ tiền tố)] antoparidāho cetaso parijjhāyanā [Cetaso parijjhāyanāti cittassa jhānanākāro. Soko hi uppajjamāno aggi viya cittaṃ jhāpeti dahati, “cittaṃ me jhāmaṃ {=daḍḍhaṃ}, na me kiñci paṭibhātī”ti vadāpeti. (Trạng thái bị thiêu đốt của tâm được gọi là “cetaso parijjhāyanā”. Thật vậy, soko mà đang khởi lên, thiêu đốt, đốt cháy tâm ví như ngọn lửa {đang có}, và khiến than vãn rằng: “Tâm của ta đang bị đốt cháy, nên không có bất cứ thứ gì hiện rõ cho ta.”)] domanassaṃ [Dukkhito mano dummano {dummanoti dosena duṭṭhamano, virūpamano vā domanassābhibhūtatāya. – tâm ý bị ô nhiễm bởi sân hận hoặc tâm ý bị biến chất hoặc do trạng thái bị áp chế bởi sự khó chịu}, tassa bhāvo domanassaṃ. (trạng thái của tâm ý bị khổ sầu hoặc bị ô nhiễm được gọi là “domanassaṃ”)] sokasallaṃ [Anupaviṭṭhaṭṭhena sokova sallanti *sokasallaṃ.* (Mũi tên ví như sự sầu muộn theo nghĩa xâm nhập, nên được gọi là “sokasallaṃ”)]. (Sự sầu muộn {soko}, sự ưu sầu {socanā}, trạng thái bị ưu sầu {socitattaṃ}, nội sầu {antosoko}, nội quá sầu {antoparisoko}, nội nhiệt {antodāho}, nội quá nhiệt {antoparidāho}, sự thiêu đốt tâm {cetaso parijjhāyanā}, sự khó chịu {domanassaṃ}, mũi tên sầu muộn {sokasallaṃ} của kẻ đã đối mặt với sự mất mát về quyến thuộc, hoặc về tài sản hoặc về bệnh tật hoặc về giới hạnh hoặc về chánh kiến, của kẻ có sự mất mát{/bị trói buộc với sự mất mát} với bất kỳ gì khác {aññataraññatarena byasanena samannāgatassa}, và của kẻ đối mặt với bất kỳ pháp khổ nào khác {aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa} đều được gọi là “soko”)

D-ṭhā.iii.21: Bhayanti cittutrāsabhayaṃ. (sự sợ hãi hoảng hốt của tâm/sự kinh hồn bạc vía được gọi là “bhayaṃ”)

Psm-ṭhā.i.10: Yaṃ dukkhaṃ, taṃ bhayaṃ. (cái nào là khổ, cái ấy là sợ hãi)

Cūḷanid.240: Bhayanti jātibhayaṃ jarābhayaṃ byādhibhayaṃ maraṇabhayaṃ rājabhayaṃ corabhayaṃ… (sự sợ hãi về sanh, về già, về bệnh… được gọi là “bhayaṃ”)

Thera-ṭhā.p242: ***Vippamuttan***ti sabbaso vimuttaṃ, sabbakilesehi sabbabhavehi ca visaṃyuttaṃ. (được giải thoát cho tất cả, hoặc không kết hợp với tất cả phiền não cũng như tất cả các hữu {bhava})

Psm-ṭhā.ii.p266: Vippamuttanti vikkhambhanavimuttivasena kāmarāgato vippamuttaṃ. Atha vā pañcavimuttivasena [D-ṭhā.ii.13: Ettha vikkhambhanavimutti, tadaṅgavimutti, samucchedavimutti, paṭippassaddhivimutti, nissaraṇavimuttīti pañcavidhā vimutti. Tattha aṭṭha samāpattiyo sayaṃ vikkhambhitehi nīvaraṇādīhi vimuttattā vikkhambhanavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Aniccānupassanādikā sattānupassanā sayaṃ tassa tassa [D-ṭī.ii.13: tassa tassāti aniccānupassanādikassa.] paccanīkaṅgavasena [*paccanīkaṅgavasenāti pahātabbapaṭipakkhaaṅgavasena. – bằng yếu tố đối nghịch của pháp cần được đoạn trừ] pariccattāhi niccasaññādīhi vimuttattā *tadaṅgavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Cattāro ariyamaggā sayaṃ samucchinnehi kilesehi vimuttattā samucchedavimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Cattāri sāmaññaphalāni maggānubhāvena kilesānaṃ paṭippassaddhante uppannattā [D-ṭī.ii.13: Paṭippassaddhante uppannattāti kilesānaṃ paṭippassambhanaṃ *paṭippassaddhaṃ, so eva anto pariyosānabhāvato, tasmiṃ sādhetabbe nibbattattā, taṃtaṃmaggavajjhakilesānaṃ paṭippassambhanavasena pavattattāti attho. (Trong câu “Paṭippassaddhante uppannattā”, sự an tịnh đối với các phiền não được gọi là “paṭippassaddhaṃ”, chính paṭippassaddhaṃ là “anto” do trạng thái là cuối cùng, tức có nghĩa do trạng thái khởi lên nơi cái cần được hoàn thiện {=magga}, và do sự xuất hiện {của phala} nhờ sự an tịnh đối với các phiền não mà đã được diệt trừ bởi chính tâm Đạo ấy.) / S-ṭhā.5.378: paṭippassaddhanteti paṭippassambhanosāpanena. (Do sự hoàn thiện của sự an tịnh nên được gọi là “paṭippassaddhante”)] paṭippassaddhivimuttīti saṅkhyaṃ gacchanti. Nibbānaṃ sabbakilesehi nissaṭattā apagatattā dūre ṭhitattā [D-ṭī.ii.13: kilesehi nissaṭatā, apagamo ca nibbānassa tehi vivittattā evāti āha “dūre ṭhitattā”ti. (trạng thái tách ly và rời khỏi các phiền não của Nibbāna được gọi là “dūre ṭhitattā”) / S-ṭhā.5.378: sabbakilesehi nissaṭattā asaṃsaṭṭhattā vimuttattā ca nissaraṇavimutti nibbānaṃ. (trạng thái tách ly, trạng thái bất hợp, trạng thái giải thoát khỏi mọi phiền não chính là Nibbāna hay “nissaraṇavimutti”)] nissaraṇavimuttīti saṅkhyaṃ gacchati. (Ở đây, có 5 loại vimutti – sự giải thoát: 1/ vikkhambhanavimutti, 2/ tadaṅgavimutti, 3/ samucchedavimutti, 4/ paṭippassaddhivimutti, 5/ nissaraṇavimutti. Trong đó, 8 thiền chứng được gọi là “vikkhambhanavimutti” do trạng thái đã được thoát khỏi các chướng pháp mà đã bị dừng lại bởi chính chúng. Bảy sự tuỳ quán như Vô thường tuỳ quán… được gọi là “tadaṅgavimutti” do trạng thái đã được thoát khỏi các nhận thức sai lạc như thường tưởng… mà đã bị tẩy trừ bởi yếu tố đối nghịch của chính Vô thường tuỳ quán… ấy. Bốn tâm Đạo{ariyamaggā} được gọi là “samucchedavimutti” do đã được thoát khỏi các phiền não mà đã được nhổ tận bởi chính tâm Đạo ấy. Bốn tâm Quả {sāmaññaphalāni} được gọi là “paṭippassaddhivimutti” do trạng thái đã được khởi lên tại điểm cuối của sự an tịnh đối với các phiền não nhờ năng lực của tâm Đạo ấy. Nibbāna được gọi là “nissaraṇavimutti***” do trạng thái tách ly, trạng thái rời khỏi, trạng thái đứng xa khỏi mọi phiền não.)] kāmarāgato vippamuttaṃ. Atha vā pañcavimuttivasena tato tato paṭipakkhato vippamuttaṃ. (Được thoát khỏi dục ái nhờ sự giải thoát do dừng lại/tẩy trừ {vikkhambhanavimutti})