PME-Bài 20A.05

Đề: Saddhāya tarati oghaṃ, paññāya parisujjhati.

Dịch: Vị ấy vượt bộc lưu nhờ đức tin & được thanh tịnh hoàn toàn nhờ trí tuệ.

Chú giải:

D-ṭhā.i.p129: Yañca jalaṃ taḷākaṃ gahetuṃ na sakkoti, ajjhottharitvā gacchati, taṃ oghoti vuccati. [Nước nào mà không thể giữ lại trong hồ, tràn ra & chảy đi, đó được gọi là “ogho – dòng nước lũ”]

S-ṭhā.1.p16: Sabbopi cesa avahananaṭṭhena rāsaṭṭhena ca ***ogho***ti veditabbo. ***Avahananaṭṭhenā***ti adhogamanaṭṭhena. Ayañhi attano vasaṃ gate satte adho gameti, nirayādibhedāya duggatiyaṃyeva nibbatteti, uparibhāvaṃ vā nibbānaṃ gantuṃ adento adho tīsu bhavesu catūsu yonīsu pañcasu gatīsu sattasu viññāṇaṭṭhitīsu navasu sattāvāsesu ca gametītipi attho. Rāsaṭṭhenāti mahantaṭṭhena. Mahā heso kilesarāsi avīcito paṭṭhāya yāva bhavaggā patthaṭo, yadidaṃ pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo nāma. [Và tất cả điều ấy được hiểu là “ogho” theo nghĩa cuốn trôi (avahananaṭṭhena) và theo nghĩa chất đống (rāsaṭṭhena). “Avahananaṭṭhena – theo nghĩa cuốn trôi” tức theo nghĩa cuốn trôi xuống. Thật vậy, có nghĩa là ogho nhấn chìm chúng sanh mà bị nó chi phối xuống, khiến sanh vào khổ cảnh với sự phân loại như địa ngục…, và nhấn chìm chúng sanh trong 3 giới (bhavesu), 4 loài (yonīsu), 5 cõi (gatīsu), 7 thức trú (viññāṇaṭṭhitīsu) và 9 chỗ trú của chúng sanh (sattāvāsesu) khi không cho đạt đến Nibbāna cao thượng. “Rāsaṭṭhena – theo nghĩa chất đống” tức theo nghĩa rộng lớn. Thật vậy, đống phiền não to lớn ấy trải dài từ cõi địa ngục Avīci (avīcito) cho đến cõi cao nhất (bhavaggā), tức được gọi là “chandarāgo – dục ái (chanda=dubbalataṇhā=nhược ái & rāgo=balavataṇhā=cường ái)” trong 5 cảnh dục.]

S.1.246: Saddhāya tarati oghaṃ, appamādena aṇṇavaṃ; vīriyena dukkhamacceti, paññāya parisujjhati. [Vị ấy vượt qua dòng nước lũ (oghaṃ) nhờ đức tin (saddhāya), vượt qua biển nhờ sự cẩn trọng (appamādena), thoát khỏi khổ đau nhờ tinh cần (vīriyena), và được thanh tịnh nhờ trí tuệ (paññāya)]

S-ṭhā.1.246: Tattha kiñcāpi yo catubbidhamoghaṃ tarati, so saṃsāraṇṇavampi tarati, vaṭṭadukkhampi acceti, kilesamalāpi parisujjhati, evaṃ santepi pana yasmā assaddho oghataraṇaṃ asaddahanto na pakkhandati, pañcasu kāmaguṇesu cittavossaggena pamatto tattheva visattattā saṃsāraṇṇavaṃ na tarati, kusīto dukkhaṃ viharati vokiṇṇo akusalehi dhammehi, appañño suddhimaggaṃ ajānanto na parisujjhati, tasmā tappaṭipakkhaṃ dassentena bhagavatā ayaṃ gāthā vuttā. [Trong đó, bất kỳ ai vượt qua 4 dòng nước lũ (1/dục cường lưu-kāmogho = pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo – dục ái trong 5 cảnh dục*,* 2/hữu cường lưu-bhavogho = rūpārūpabhavesu chandarāgo – dục ái trong cõi Sắc & cõi Vô sắc*,* 3/kiến cường lưu-diṭṭhogho = dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo – 62 loại tà kiến*,* 4/vô minh cường lưu-avijjogho = catūsu saccesu aññāṇaṃ - bất tri trong 4 đế), người ấy cũng vượt qua biển luân hồi (saṃsāraṇṇavampi), cũng thoát khỏi khổ luân hồi (vaṭṭadukkhampi), cũng được thanh tịnh khỏi bụi phiền não; nhưng trong lúc như vậy vì kẻ bất tín thì không vượt qua được dòng nước lũ (oghataraṇanti oghataraṇapaṭipattiṃ) khi đang không tịnh tín; vì kẻ phóng dật (pamatto) với tâm buông lơi trong 5 cảnh dục thì không vượt qua được biển luân hồi do bám chấp ngay ở đấy (=5 cảnh dục); vì kẻ biếng nhác (kusīto) sống khổ đau khi kết hợp với các ác pháp; vì kẻ vô trí không được tịnh hoá khi không biết về con đường thanh tịnh (suddhimaggaṃ), nên bài kệ này được Thế Tôn nói đến lúc Ngài đang nói về sự đối nghịch với điều ấy

Evaṃ vuttāya cetāya yasmā sotāpattiyaṅgapadaṭṭhānaṃ saddhindriyaṃ, tasmā ***saddhāya tarati oghan***ti iminā padena diṭṭhoghataraṇaṃ sotāpattimaggaṃ sotāpannañca pakāseti. Yasmā pana sotāpanno kusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanāya sātaccakiriyasaṅkhatena appamādena samannāgato dutiyamaggaṃ ārādhetvā ṭhapetvā sakidevimaṃ lokaṃ āgamanamaggaṃ avasesaṃ sotāpattimaggena atiṇṇaṃ bhavoghavatthuṃ saṃsāraṇṇavaṃ tarati, tasmā ***appamādena aṇṇavan***ti iminā padena bhavoghataraṇaṃ sakadāgāmimaggaṃ sakadāgāmiñca pakāseti. Yasmā ca sakadāgāmī vīriyena tatiyamaggaṃ ārādhetvā sakadāgāmimaggena anatītaṃ kāmoghavatthuṃ kāmoghasaññitañca kāmadukkhamacceti, tasmā ***vīriyena dukkhamaccetī***ti iminā padena kāmoghataraṇaṃ anāgāmimaggaṃ anāgāmiñca pakāseti. Yasmā pana anāgāmī vigatakāmasaññāya parisuddhāya paññāya ekantaparisuddhaṃ catutthamaggapaññaṃ ārādhetvā anāgāmimaggena appahīnaṃ avijjāsaṅkhātaṃ paramamalaṃ pajahati, tasmā ***paññāya parisujjhatī***ti, iminā padena avijjoghataraṇaṃ arahattamaggañca arahattañca pakāseti. Imāya ca arahattanikūṭena kathitāya gāthāya pariyosāne yakkho sotāpattiphale patiṭṭhāsi. [Và khi điều ấy được nói đến như vậy, vì (yasmā) tín pháp chủ (saddhindriyaṃ) là nền tảng/nhân gần cho Nhập Lưu chi (sotāpattiyaṅgapadaṭṭhānaṃ), nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Nhâp Lưu Đạo đoạn tận được kiến cường lưu (diṭṭhoghataraṇaṃ) và về bậc Nhập Lưu bằng câu này “saddhāya tarati oghaṃ - vị ấy vượt qua cường lưu nhờ đức tin”. Còn vì (yasmā) bậc Nhập Lưu là người mà có sự cẩn trọng (appamādena) đã được thực hiện liên tục nhờ sự trưởng dưỡng các thiện pháp (nên) đạt được & an trú Nhị Đạo (=Nhất Lai Đạo, sakadāgāmimagga), rồi vượt qua được biển luân hồi là đối tượng của hữu cường lưu (bhavoghavatthuṃ) mà chưa được vượt qua (atiṇṇaṃ) trước đó nhờ Nhập Lưu Đạo và vượt qua được phần còn sót lại của con đường dẫn trở lại cõi Dục này 1 lần nữa, nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Nhất Lai đoạn tận được hữu cường lưu (bhavoghataraṇaṃ) và bậc Nhất Lai bằng câu này “appamādena aṇṇavaṃ - vượt biển nhờ sự cẩn trọng”. Và vì (yasmā) bậc Nhất Lai đạt được Tam Đạo (=Bất Lai Đạo, anāgāmimagga) nhờ sự tinh cần, rồi thoát khỏi cái được biết là dục cường lưu là đối tượng của dục cường lưu mà chưa được vượt qua (anatītaṃ??) trước đó nhờ Nhất Lai Đạo và thoát khỏi dục-khổ (kāmanaṭṭhena kāmo ca so dukkho cāti kāmadukkhantikāmo theo nghĩa ái luyến và khổ ấy gọi chung là “kāmadukkhaṃ - dục-khổ”), nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Bất Lai Đạo đoạn tận được dục cường lưu (kāmoghataraṇaṃ) và bậc Bất Lai bằng câu này “vīriyena dukkhamacce – thoát khỏi khổ nhờ tinh cần”. Còn vì (yasmā) bậc Bất Lai đạt được trí trong Tứ Đạo (=Ưng Cúng Đạo, arahattamagga) thanh tịnh tuyệt đối nhờ trí tịnh hoá dục tưởng mà đã được tẩy trừ (assādanaṭṭhena kāmo eva saññāti kāmasaññā, sabbaso samucchinnattā vigatā kāmasaññā etissāti vigatakāmasaññā – nhận thức về dục theo nghĩa hưởng thụ được gọi là “kāmasaññā – dục tưởng”, dục tưởng mà được tẩy trừ, diệt tận hoàn toàn cho trí ấy được gọi là “vigatakāmasaññā – dục tưởng đã được tẩy trừ”) và diệt trừ được cấu uế tối thượng vô minh mà chưa từng được diệt trừ trước đó nhờ Bất Lai Đạo, nên (tasmā) Thế Tôn mới giải thích về Ưng Cúng Đạo đoạn tận được vô minh cường lưu (avijjoghataraṇaṃ) và bậc Ưng Cúng bằng câu này “paññāya parisujjhati – được tịnh hoá nhờ trí tuệ”. Khi kết thúc kệ ngôn mà có thể dẫn đến Arahatta này, dạ-xoa Āḷavaka đã được an trú vào Nhập Lưu Quả.